Vai trò của Điều ước quốc tế trong các quan hệ pháp luậtở Việt Nam
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay, ĐƯQT là một trong những
công cụ hiệu quả nhất mà các quốc gia có thể sử dụng để thiết lập các quan hệ đối ngoại. Chính vì thế, trong pháp luật các nước nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng, ĐƯQT đóng một vai trò quan trọng và thường được ưu tiên áp dụng trong trường hợp xảy ra xung đột giữa các quy định của văn bản quy phạm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về cùng một vấn đề. Ngay từ cuối những năm 80 của thế kỉ trước, nguyên tắc ưu tiên áp dụng ĐƯQT so với nội luật đã được chính thức ghi nhận trong một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đối ngoại của nước ta. Dần dần, nó đã trở thành nội dung không thể thiếu trong các văn bản quy phạm pháp luật ở tất cả các cấp độ luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật. Gần đây nhất, tại Khoản 1 Điều 6 của Luật Kí kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT 2005 có quy định: “Trong trường hợp ĐƯQT mà CHXHCN Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của ĐƯQT”. Từ đây có thể hiểu “trong một chừng mực nhất định nào đó, Việt Nam thừa nhận luật pháp quốc tế như một nguồn luật nằm ngoài hệ thống pháp luật quốc gia, được ưu tiên bổ sung cho pháp luật quốc gia để giải quyết các vấn đề phát sinh trong tiến trình hội nhập, nhằm đảm bảo chuẩn mực quốc tế vẫn được tôn trọng một khi pháp luật quốc gia chưa thể tiếp cận pháp luật quốc tế”[7]. Điều này đã được tái khẳng định trong báo cáo của Bộ ngoại giao về dự thảo Luật kí kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT: một trong những “mục tiêu quan trọng trong Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010” là phải gắn kết được kế hoạch kí kết, gia nhập ĐƯQT với chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nhằm có được một hệ thống pháp luật thống nhất, phát triển[8].
Không có nhận xét nào: