Vấn đề xác định vị trí pháp lý của Điều ước quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Xu hướng chung của pháp luật hầu hết các nước là thừa nhận tính ưu thế và ưu tiên thực hiện ĐƯQT, tuy nhiên không để bị phụ thuộc vào ĐƯQT để đảm bảo độc lập chủ quyền và các quyền dân tộc tự quyết khác. Do đó, luật pháp một số nước coi ĐƯQT có vị trí cao hơn luật và duới Hiến pháp. Vậy ở Việt Nam hiện nay, vị trí pháp lí của ĐƯQT được xác định như thế nào?
Nhìn chung về hệ thống pháp luật Viêt Nam, hiện nay, địa vị pháp lý của ĐƯQT mới chỉ được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật chứ chưa được xác định rõ trong Hiến pháp 1992 ( đã được sửa đổi bổ sung năm 2001) hay bất kỳ văn bản pháp luật có hiệu lực cao nào. Về tương quan giữa ĐƯQT và luật, công thức chung của hầu hết các văn bản pháp luật trong thời gian gần đây đó là văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng cho mọi cá nhân, tổchức Việt Nam và nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng “trong
trường hợp ĐƯQT mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của văn bản này thì tuân theo các quy định của ĐƯQT đó”. Mặc dù các văn bản pháp luật quy định nguyên tắc “ưu tiên” áp dụng ĐƯQT khi có điều khoản khác quy định của nội
luật nhưng đây chưa phải là điều khoản xác định vị trí của ĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Về mối tương quan của ĐƯQT so với Hiến pháp cũng chưa có quy định chính thức nào mà chỉ nêu:
“ĐƯQT được ký kết, gia nhập và thực hiện trên cơ sở tuân thủ những
nguyên tắc sau:
1…….
2. P hù hợp với các quy định của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam
…….”[9]
Do vậy, việc có một số ý kiến cho rằng “ ĐƯQT có vị trí dưới Hiến pháp và trên luật và các văn bản dưới luật”, theo ý kiến chủ quan của cá nhân tôi là chưa có đầy đủ căn cứ để đi đến kết luân. Tiếp tục đặt vấn đề xem xét vị trí của ĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam vào thời điểm hiện nay xem ra không phải là vấn đề cần thiết nhất và e rằng sẽ gây ra những tranh cãi không đáng có. Bởi một khi Nhà nước đã ký kết các ĐƯQT tức là đã trải qua một quá trình thẩm định tính hợp hiến của nội dung điều ước đó rồi, cho nên sẽ phải bằng những phương tiện sẵn có của mình thực hiện các cam kết đã ký [10]. Hơn nữa, với việc trở thành thành viên chính thức của Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế ngày 10/10/2001, Việt Nam đã thừa nhận nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế ( tiếng la-tin là pacta sunt servanda) được quy định tại Điều 26 của Công ước này: “Mọi điều ước
đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được các bên thi hành với thiện ý”. Đồng thời, tại Điều 27 của Công ước cũng nêu ra quy tắc tôn trọng các cam kết. quốc tế của các quốc gia kết ước: “Một bên kết ước không thể viện dẫn những quy định của pháp luật trong nước của mình làm lí do để không thi hành một điều ước mà mình đã kí” Chỉ với quy tắc này, pháp luật quốc tế đã gần như mặc định các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia phải tự điều chỉnh để thực hiện được các nghĩa vụ đã cam kết. Nênlàm thế nào để hài hòa các quy định của hai hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế mới là vấn đề tối quan trọng trong thời điểm hiện nay.
Không có nhận xét nào: