Các quan điểm cơ bản về mối quan hệ giữa Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia
1. Nhất nguyên luận và Nhị nguyên luận
Liên quan đến vấn đề xác định mối tương quan giữa luật quốc tế và pháp luật quốc gia, có hai học thuyết cơ bản thường được viện dẫn đó là thuyết Nhị nguyên luận (Dualism) và thuyết Nhất nguyên luận (Monism). Các đại diện tiêu biểu cho thuyết Nhị nguyên luận là H.Triepel, D.A.Anzilotti… cho rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống hoàn toàn riêng biệt,“ không thể viện dẫn một điều ước quốc tế trước tòa án quốc gia, trừ khi điều ước đó đã được chuyển hóa vào bằng những quy định trong nước cụ thể”[2]. Trái ngược với thuyết Nhị nguyên, thuyết Nhất nguyên cho rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia nằm trong cùng một hệ thống pháp luật. Những người theo học thuyết này lại chia thành hai phái:phái ưu tiên pháp luật quốc gia đặt chủ quyền quốc gia lên trên hết, theo đó luật quốc tế chỉ là một bộ phận đối ngoại của các quốc gia ; phái ưu tiên pháp luật quốc tế lại khẳng định luật quốc gia phải phụ thuộc vào luật quốc tế, trong trường hợp pháp luật quốc gia trái với luật pháp quốc tế thì pháp luật quốc gia sẽ bị coi là vô hiệu [3].
2. Các quan điểm khác
Hiện nay ngày càng có nhiều luật gia cũng như các chuyên gia về luật quốc tế không tán thành các nội dung của các thuyết nhất nguyên luận và thuyết nhị nguyên luận.
Theo thuyết Nhị nguyên luận, pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế là hai hệ thống hoàn toàn độc lập. Như vậy quan điểm này mâu thuẫn với thực tế: “đời sống quốc tế xây dựng trên cơ sở cởi mở hòa nhập với nhau chứ không trên cơ sở tách biệt với nhau”[4]. Hơn nữa “ yêu sách đòi đặt trật tự pháp luật chỉ ở cấp quốc gia ngang hàng với một trật tự pháp luật của toàn bộ nhân loại là một yêu sách thái quá ”[5].
Theo thuyết Nhất nguyên, nếu trật tự pháp luật quốc gia được đặt lên vị trí hàng đầu, tức là khi đó trật tự pháp luật của cả thế giới ở dưới một trật tự pháp luật mang tính quốc gia thì quả thật là phi logic. Còn nếu đặt trật tự pháp luật quốc tế lên trên thì sẽ đe dọa đến chủ quyền cũng như quyền dân tộc tự quyết của các quốc gia thành viên.
Có thể nói, hai hệ thống pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đều có vị trí “tối cao trong môi trường của mình”[6]. Luật quốc tế có chủ thể của riêng mình – các quốc gia và các tổ chức quốc tế. Luật quốc gia cũng vậy, chủ thể của nó là Nhà nước và các pháp nhân, cá nhân trên lãnh thổ đó. Bên cạnh tính độc lập tác động như vậy, luật quốc tế và luật quốc
gia cũng có mối quan hệ gắn bó mật thiết. Một trong những biểu hiện của điều này đó là các ĐƯQT ngày càng trở thành một nguồn quan trọng của luật các quốc gia, đồng thời hướng luật quốc gia một số nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, phát triển theo chiều hướng tiến bộ. Chẳng hạn các ĐƯQT về nhân quyền đã tác động tích cực đến sự thay đổi pháp luật về nhân quyền ở các nước còn tồn tại chính sách phân biệt chủng tộc, giới tính…Ngược lại, cũng có rất nhiều quy phạm của luật quốc tế được xây dựng dựa trên các quy phạm pháp luật tiến bộ của một số quốc gia. VD: Nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau có xuất phát điểm chính là từ nguyên tắc đối ngoại của Nhà nước tư sản Pháp ; Nguyên tắc dân tắc dân tộc tự quyết được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, tuyên ngôn của phong trào không liên kết …có nền tảng là Sắc lệnh về hòa bình của Nhà nước Xô Viết…
Từ thực tế trên, các luật gia quốc tế về mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia hiện nay cho rằng: luật quốc tế và luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật tồn tại song hành và có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nhấn mạnh tính ưu thế của luật quốc tế so với luật quốc gia. Quan điểm này đảm bảo vững chắc hơn cho việc thực thi những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế cũng như độc lập chủ quyền của mỗi quốc gia thành viên.
Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
Không có nhận xét nào: