Ads Top

Thực tiễn áp dụng và thi hành nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng


 


a. Những kết quả đã đạt được


Luật hôn nhân và gia đình được Nhà nước ta ban hành từ năm 1959, đến nay đã qua hai lần sửa đổi. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã được hoàn thiện dần làm cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện những chế định cụ thể điều chỉnh một cách toàn diện những quan hệ hôn nhân và gia đình nảy sinh trong đời sống xã hội. Thực tế phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội ở đất nước ta cũng đã chứng minh rằng, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là hoàn toàn đúng đắn. Hiệu quả điều chỉnh của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng thể hiện tập trung ở hai vấn đề lớn: chất lượng hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình cụ thể và kết quả điều chỉnh của nó đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình trong thực tiễn.


Trên cơ sở nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, một loạt các chế định gồm nhiều quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình đã được thiết kế để áp dụng trong thực tế, như: điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn, nghĩ vụ và quyền của vợ và chồng.. những văn bản quy phạm pháp luật khác cũng được ban hành để hướng dẫn áp dụng và quy định cụ thể để thi hành một số chế định trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Thực chất, đây là sự cụ thể hóa những nội dung của các nguyên tắc cơ bản đã được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình. Như vậy, những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình Việt Nam mà trọng tâm là nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã thực hiện được vai trò chỉ đạo, định hướng cho ngành Luật hôn nhân và gia đình trong việc xây dựng các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình so với Luật hôn nhân và gia đình 1986, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã được quy định cụ thể và đầy đủ hơn. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được biểu hiện xuyên suốt trong những chế định luật.


Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được kế thừa và phát triển qua Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986 đã có quá trình đi sâu vào thực tế cuộc sống và đã đạt được những hiệu quả điều chỉnh đáng kể. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được thi hành trong thực tiễn và đang tỏ rõ sức mạnh trong việc xóa bỏ tận gốc rễ những tàn dư, tư tưởng lạc hậu của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của hôn nhân và gai đình tư sản, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình. Chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa không ngừng được củng cố trên cơ sở kết hợp hài hòa nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cũng như các nguyên tắc cơ bản khác và đạo đức xã hội chủ nghĩa.


Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã trở thành một nguyên tắc của cuộc sống được mọi người tôn trọng và tự giác thực hiện đang dần xóa bỏ tư tưởng đa thê còn rơi rớt lại. Chế độ hôn nhân một vợ một chồng được thực hiện làm rõ bản chất của tình yêu là “không thể chia sẻ được”, là sơ sở duy trì hạnh phúc gia đình, duy trì sự bền vững của chính quan hệ hôn nhân. Tình trạng vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã giảm đáng kể. Những hành vi của người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác bị xã hội lên án, bị xử lý theo pháp luật.


b. Hạn chế


Bên cạnh những diễn biến tích cực đã nêu ở trên, trong đời sống hôn nhân và gia đình vẫn còn không ít những biểu hiện tiêu cực trái ngược với bản chất tốt đẹp của chế độ hôn nhân xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.


Tình trạng kết hôn không đăng ký đang là hiện tượng phổ biến ở vùng sâu vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Thực trạng này đã gây những khó khăn không nhỏ trong việc kiểm soát của Nhà nước đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình.


Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng còn bị vi phạm khá nghiêm trọng ở nhiều địa phương. Đặc biệt có những trường hợp một người đàn ông chung sống như vợ chồng với nhiều người phụ nữ. Việc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng: làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, con cái bị bỏ mặc, thiếu sự chăm sóc, giáo dục của cha mẹ (thực tế cho thấy có khoảng 40% số trẻ em không được chăm sóc, giáo dục sau khi bố mẹ các cháu lâm vào tình trạng trên), có trường hợp con bị khủng hoảng về tâm lý sinh ra những thói hư tật xấu, kinh tế gia đình bị sa sút nghiêm trọng… nhưng đáng tiếc không phải trường hợp vi phạm nào cũng được xử lý.


Ví dụ về vụ án đang gây nhiều tranh cãi: “một ông bốn bà”. Ông N quê ở xã Tân Bửu – Bến Lức – Long An cưới người vợ đầu tiên năm 1994 (có đăng ký kết hôn), sau một thời gian, đường ai nấy đi. Năm 1996, khi chưa ly hôn, ông N đã làm đám cưới rồi sống chung không hôn thú với bà vợ hai. Một năm sau, họ sinh được một con chung. Rồi do mâu thuẫn, họ xin ly hôn. Lẽ ra phải xác định đây là hôn nhân trái pháp luật thì năm 1999, TAND huyện Bến Lức lại cho ông N ly hôn bà vợ hai và giải quyết các yêu cầu về tài sản chung, quyền nuôi con, cấp dưỡng. Năm 2000, ông N lại tổ chức đám cưới và sống chung với bà vợ ba, có một con chung, đến năm 2004 thì được chính xã Tân Bửu cho đăng ký kết hôn. Tháng 7-2008, lấy lý do bà vợ ba bỏ đi theo người khác, ông N làm đơn xin ly hôn bà này.


Thụ lý, TAND huyện Bến Lức té ngửa vì thấy sự việc quá phức tạp, bèn yêu cầu UBND xã Tân Bửu xác minh, cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân của ông N. Tháng 7-2009, UBND xã Tân Bửu trả lời rằng khi ông N. đến xã đăng ký kết hôn với bà vợ ba thì ông khai chỉ có một vợ, đã được tòa cho ly hôn vào năm 1999 (bà vợ hai) và đưa ra bản án của tòa. Dựa vào đó, cán bộ tư pháp xã mới cho ông đăng ký kết hôn.


Có thể thấy đây là một cái sai lẩn quẩn mà trách nhiềm đầu tiên thuộc về UBND xã Tân Bửu. Phải xử lý cho xong hôn nhân của ông N với bà vợ đầu thì mới có thể giải quyết cho ông ly hôn với bà vợ ba được. Trong trường hợp các đương sự không hợp tác, tòa sẽ yêu cầu UBND xã Tân Bửu hủy việc kết hôn trái pháp luật.


Những hạn chế trên đây cần phải được khắc phục. Chúng ta không thể chờ đến khi nào chế độ công hữu được xác lập hoàn toàn để đón nhận chế độ hôn nhân xã hội chủ nghĩa ưu việt mà đồng thời với việc tạo ra những cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội phải cải tạo những quan hệ hôn nhân và gia đình, đưa nó phát triển theo đúng quy luật vận động khách quan. Trong quá trình đó, sự điều chỉnh của luật hôn nhân và gia đình là biện pháp chính yếu mà sự định hướng là nguyên tắc một vợ một chồng.


c. Nguyên nhân


Việc thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong điều kiện hiện nay là rất khó khăn do việc thừa nhận quan hệ chung sống như vợ chồng của nam và nữ có giá trị pháp lý như quan hệ vợ chồng. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, “hôn nhân thực tế” không được thừa nhận nữa, nhưng chúng ta vẫn phải chấp nhận sự tồn tại của những quan hệ chung sống như vợ chồng đã xảy ra từ trước ngày 3/1/1987. Vậy nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cũng điều chỉnh cả trường hợp này. Nhưng hiện nay chúng ta chưa có được một cơ chế kiểm soát những đối tượng này cho nên nhiều UBND cấp xã đã tiến hành đăng ký kết hôn cho những người đã có vợ, có chồng (do không thể biết được là họ đang có vợ, có chồng vì việc chung sống như vợ chồng của họ không được ghi vào sổ hộ tịch). Vậy là nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng bị vi phạm do ngay chính cơ chế mà chúng ta tạo ra. Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải có những biện pháp phòng ngừa.


– Trình độ dân trí nói chung, hiểu biết về pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng trong nhân dân còn ở mức độ thấp nên dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật. Thực tế ở nhiều vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, việc thực hiện quan hệ hôn nhân và gai đình chỉ đơn thuần theo phong tục, tập quán, trong đó có những phong tục, tập quán phù hợp, có những phong tục tập quán không phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình. Sự ít hiểu biết về Luật hôn nhân và gia đình dẫn đến việc một mặt người dân vi phạm những quy định của Luật, mặt khác không bảo vệ được những quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời chúng ta không phát huy được vai trò phát hiện, tố giác kịp thời của nhân dân về những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Có trường hợp người vợ “làm tròn bổn phận của mình” tới mức mua sắm đồ lễ để đi hỏi vợ bé cho chồng mình. Nguyên nhân của tình trạng này là do điều kiện sinh hoạt vật chất thấp kém, cùng với việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số nơi còn mang nặng tính hình thức.


– Việc xử lý những cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhất là vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng chưa được kịp thời, nghiêm minh, thậm chí còn bị coi nhẹ nên không phát huy được tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Trên thực tế, những trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng còn xảy ra không ít, tuy nhiên, con số phản ánh những vụ việc đã được ơ quan có thẩm quyền giải quyết lại là quá khiêm tốn.  Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao về xét xử về hình sự đối với hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng năm 2000 ở cấp huyện là 32, ở cấp tỉnh là 3; năm 2006 ở cấp huyện là 139, ở cấp tỉnh là 86. Sở dĩ có tình hình này là do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân từ phái ơ quan bảo vệ pháp luật. Trong thực tế, khác với những loại hành vi phạm tội khác, có những trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình chưa bị xã hội lên án mạnh mẽ, thậm chí là điều bình thường đối với dư luận xã hội hoặc phù hợp với phong tục, tập quán. Cho nên, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã có phương châm coi nhẹ việc xử lý đối với những hành vi vi phạm này.


– Trình độ của đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã và thẩm phán còn chưa đồng đều, thậm chí có những cán bộ tư pháp, thẩm phán quá kém về pháp luật và chuyên môn nghiệp vụ, nên chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu giải quyết chính xác, nhanh chóng các yêu cầu của đương sự. thêm vào đó là do những tác động của vật chất, các mối quan hệ xã hội, một bộ phận không nhỏ trong đội ngũ cán bộ tư pháp, thẩm phán đã không thật sự khách quan trong giải quyết công việc. Thực tế cho thấy đội ngũ các bộ tư pháp cấp xã hầu hết chưa qua đào tạo cử nhân luật, nên thiếu những kiến thức cơ bản.


Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.