Nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
1. Nộp đơn
a. Chủ nợ
Chủ nợ có bảo đảm là chủ nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ. Ví dụ: doanh nghiệp vay của ngân hàng 1 tỷ đồng với tài sản thế chấp trị giá 1,2 tỷ đồng. Ngân hàng là chủ nợ có bảo đảm của doanh nghiệp.
Chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ mà giá trị tài sản bảo đảm ít hơn khoản nợ đó. Ví dụ: doanh nghiệp vay của ngân hàng 1 tỷ đồng với tài sản thế chấp trị giá 800 triệu đồng. Ngân hàng là chủ nợ có bảo đảm một phần của doanh nghiệp mắc nợ với phần nợ được bảo đảm là 800 triệu đồng và phần nợ không được bảo đảm là 200 triệu đồng.
Chủ nợ không có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ. Ví dụ: doanh nghiệp vay 1 tỷ đồng của ngân hàng mà không có tài sản bảo đảm. Ngân hàng là chủ nợ không có bảo đảm của doanh nghiệp.
Theo qui định tại Điều 7 Luật Phá sản doanh nghiệp thì các chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần mới có quyền nộp đơn đến toà án yêu cầu giải quyết phá sản doanh nghiệp. Quyền nộp đơn yêu cầu của những đối tượng này chỉ phát sinh từ ngày thứ 31, kể từ ngày chủ nợ đến hạn mà không được doanh nghiệp thanh toán.
Đơn yêu cầu của chủ nợ phải ghi rõ: Họ tên, địa chỉ, người làm đơn; tên và trụ sở chính của doanh nghiệp bị yêu cầu tuyên bố phá sản. Kèm theo đơn phải gửi bản sao giấy đòi nợ, các giấy tờ, tài liệu chứng minh cho các khoản nợ các tài liệu chứng minh doanh nghiệp không thanh toán nợ đúng hạn.
Toà án nhận đơn kiện phải thông báo cho người nộp đơn tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc phá sản. Mức tiền tạm ứng lệ phí là 300.000 đồng. Số tiền tạm ứng lệ phí này được doanh nghiệp mắc nợ hoàn trả lại cho các chủ nợ trong trường hợp Toà án tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản hoặc toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp vì doanh nghiệp không còn lâm vào tình trạng phá sản(khoản 1 Điều 34 Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính Phủ quy định về án phí, lệ phí toà án).
b. đại diện người lao động:
Đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn có quyền nộp đơn yêu cầu toà án tuyên bố phá sản doanh nghiệp khi có hai điều: 1/ doanh nghiệp không trả được lương người lao động ba tháng liên tiếp; 2/ có nghị quyết của công đoàn hoặc biên bản cuộc họp của tập thể người lao động về việc yêu cầu toà án tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Kèm theo đơn kiện, đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động phải nộp các giấy tờ chứng minh cho yêu cầu của mình như hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể , bảng chấm công, bản nghiệm thu sản phẩm, dịch vụ, bản thanh toán tiền lương hoặc tiền công, các chứng từ chi bảo hiểm xã hội và các chứng từ có liên quan đến các lợi ích xã hội khác.
Sau khi nộp đơn, đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn được coi là chủ nợ. Đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nộp đơn thì không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí.
c. Doanh nghiệp mắc nợ:
Theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp thì đối tượng áp dụng của Luật Phá sản doanh nghiệp là các chủ thể kinh doanh được coi là doanh nghiệp: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, chính trị-xã hội, hợp tác xã , doanh nghiệp tư nhân, các loại hình công ty, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các hộ kinh doanh cá thể hoạt động theo nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03-02-2000 của chính phủ ề đăng ký kinh doanh không thuộc phạm viáp dụng của Luật Phá sản doanh nghiệp.
Khi phát hiện mất khả năng thanh toán doanh nghiệp phải áp các biện pháp khắc phục khó khăn về tài chính để thanh toán các khoản nợ đến hạn. Nếu doanh nghiệp vẫn không khôi phục được khả năng thanh toán nợ đến hạn thì doanh nghiệp phải nộp đơn đến toà án yeeu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản.
Đơn yêu cầu do chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp ký.
Khi nhận đơn Toà án phải yêu cầu doanh nghiệp nọp danh sách các chủ nợ, bản tường trình về các trách nhiệm của các chức danh quản lý doanh nghiệp đối với tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn; báo cáo tình hình kinh doanh 6 tháng trứoc khi mất khả năng thanh toán nợ đến hạn…
Doanh nghiệp mắc nợ phải nộp tạm ứng lệ phí giải quyết việc phá sản doanh nghiệp là 500.000 đồng (Điều 34 Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí, lệ phí toà án).
2. Thụ lý đơn:
Cơ quan có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp là toà án kinh tế toà án nhân dân Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi doanh nghiệp mắc nợ đặt trụ sở chính.
Khi ngưòi nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp xuất trình chứng từ về việc đã nộp tiền tạm ứng lệ phí, toà án phải vào sổ thụ lý và cấp cho người đơn giấy báo đã nộp đơn, trong đó cần ghi rõ đã nhận được các loại giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn.
Trong trường hợp người nộp đơn là chủ nợ hoặc đại diện công đoàn, đại diện người lao động thì trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày thụ lý đơn Toà án phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp mắc nợ biết kèm theo bản sao đơn và các tài liệu liên quan. Trong thông báo toà án ấn định thời hạn 10 ngày kể từ ngày được thông báo để doanh nghiệp mắc nợ gửi cho toà án báo cáo về khả năng thanh toán nợ.Trường hợp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì doanh nghiệp phải gửi đến toà án các báo cáo về tài liệu như đã đề cập ở phần trên.
Không có nhận xét nào: