Ads Top

Hiệu lực thỏa ước lao động tập thể


 


* Thoả ước tập thể có hiệu lực kể từ ngày được cơ quan lao động cấp tỉnh đăng ký. Chậm nhất 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản thoả ước tập thể, cơ quan lao động cấp tỉnh phải thông báo việc đăng ký. Nếu hết thời hạn trên mà không có thông báo thì thoả ước tập thể đương nhiên có hiệu lực.


1- Khi thoả ước tập thể đã có hiệu lực, người sử dụng lao động phải thông báo cho mọi người lao động trong doanh nghiệp biết. Mọi người trong doanh nghiệp, kể cả người vào làm việc sau ngày ký kết đều có trách nhiệm thực hiện đầy đủ thoả ước tập thể.


2- Trong trường hợp quyền lợi của người lao động đã thoả thuận trong hợp đồng lao động thấp hơn so với thoả ước tập thể, thì phải thực hiện những điều khoản tương ứng của thoả ước tập thể. Mọi quy định về lao động trong doanh nghiệp phải được sửa đổi cho phù hợp với thoả ước tập thể.


3- Khi một bên cho rằng bên kia thi hành không đầy đủ hoặc vi phạm thoả ước tập thể, thì có quyền yêu cầu thi hành đúng thoả ước và hai bên phải cùng nhau xem xét giải quyết; nếu không giải quyết được, mỗi bên đều có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể theo trình tự do pháp luật quy định.


 (Điều 49 BLLĐ)


* Thoả ước tập thể được ký kết với thời hạn từ một năm đến ba năm. Đối với doanh nghiệp lần đầu tiên ký kết thoả ước tập thể, thì có thể ký kết với thời hạn dưới một năm.


* Chỉ sau ba tháng thực hiện, kể từ ngày có hiệu lực đối với thoả ước tập thể thời hạn dưới một năm và sau sáu tháng đối với thoả ước tập thể thời hạn từ một năm đến ba năm, các bên mới có quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung thoả ước. Việc sửa đổi, bổ sung được tiến hành theo trình tự như ký kết thoả ước tập thể.


(Điều 50 BLLĐ)


* Trước khi thoả ước tập thể hết hạn, hai bên có thể thương lượng để kéo dài thời hạn thoả ước tập thể hoặc ký kết thoả ước tập thể mới. Khi thoả ước tập thể hết hạn mà hai bên vẫn tiếp tục thương lượng, thì thoả ước tập thể vẫn có hiệu lực. Nếu quá ba tháng, kể từ ngày thoả ước tập thể hết hạn mà thương lượng không đi đến kết quả, thì thoả ước tập thể đương nhiên hết hiệu lực.


 (Điều 51 BLLĐ)


* 1.Trong trường hợp phân chia doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện thoả ước tập thể cho tới khi hết hạn hoặc tới khi ký kết thoả ước tập thể mới.


Trong trường hợp sáp nhập doanh nghiệp, việc thực hiện thoả ước tập thể do Chính phủ quy định.


2. Trong trường hợp thoả ước tập thể hết hiệu lực do doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, thì quyền lợi của người lao động được giải quyết theo Điều 66 của Bộ luật này.


(Điều 52 BLLĐ)


*Các trường hợp vô hiệu của thỏa ước lao động tập thể


Các trường hợp vô hiệu của thỏa ước lao động tập thể được quy định trong điều 48 BLLĐ. Theo đó thì thỏa ước lao động tập thể vô hiệu được chia làm hai trường hợp: thỏa ước lao động tập thể vô hiệu từng phần hoặc thỏa ước lao động tập thể vô hiệu toàn bộ.

  • Thỏa ước lao động tập thểvô hiệu từng phần được quy định tại khoản 1 điều 48 BLLĐ: thỏa ước lao động tập thể bị coi là vô hiệu từng phần khi một hoặc một số điều khoản trong thỏa ước trái với quy định của pháp luật”. Khoản 2 điều 44 BLLĐ quy định rõ: “Nội dung của thỏa ước lao động tập thể không được trái với các quy định của pháp luật lao động và pháp luật khác”. Đây là một trong những nguyên tắc khi kí kết thỏa ước lao động tập thể. Xuất phát từ thực tế người lao động luôn viện dẫn những quy định của pháp luật để đòi hỏi người sử dụng lao động đảm bảo quyền lợi cho mình nên nếu những thỏa thuận trong thỏa ước trái với pháp luật lao động, tranh chấp lao động sẽ thường xuyên phát sinh.
  • Thỏa ước lao động tập thểvô hiệu toàn bộ được quy định tại khoản 2 điều 48 BLLĐ: “Thỏa ước thuộc một trong các trường hợp sau đây bị coi là vô hiệu toàn bộ:

–   Toàn bộ nội dung thỏa ước trái pháp luật. Tức là toàn bộ điều khoản trong thỏa ước trái với quy định của pháp luật lao động cũng như pháp luật khác.


–   Người kí kết thỏa ước không đúng thẩm quyền. Theo quy định tại khoản 2 điều 45 BLLĐ:“Đại diện kí kết của bên tập thể người lao động là Chủ tịch Ban Chấp hành công đoàn cơ sở hoặc người có giấy ủy quyền của Ban Chấp hành công đoàn. Đại diện kí kết của bên người sử dụng lao động là Giám đốc doanh nghiệp hoặc người có giấy ủy quyền của Giám đốc doanh nghiệp”. Theo đó thì việc kí kết thỏa ước lao động tập thể không phải do các chủ thể này xác lập được xác định là không đúng thẩm quyền.


–   Không tiến hành theo đúng trình tự kí kết. Một bản thỏa ước lao động tập thể chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó đạt được sự đồng thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động .Theo nguyên tắc, trước khi ký kết thỏa ước lao động tập thể, doanh nghiệp và công đoàn phải lấy ý kiến của tập thể người lao động. Trên thực tế thì công đoạn lấy ý kiến của người lao động thường bị bỏ qua. Đây được coi là một trường hợp vô hiệu của thỏa ước lao động tập thể, không đảm bảo nguyên tắc bình dẳng khi kí kết.


* Cách xử lí các thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

  • Thỏa ước lao động tập thể khi vi phạm pháp luật về nội dung hoặc trình tự kí kết thì bị tuyên vô hiệu. Thẩm quyền tuyên vô hiệu theo Khoản 3 điều 48 BLLĐ quy định: “Cơ quan quản lí nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền tuyên bố thỏa ước lao động tập thểvô hiệu từng phần hoặc vô hiệu toàn bộ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này”. Ngoài ra thì khoản 4 Điều 66 BLLĐ còn quy định thêm: “Khi xét xử, nếu Tòa án nhân dân phát hiện thỏa ước lao động tập thểtrái với pháp luật lao động thì tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu từng phần hoặc toàn bộ”.
  • Trường hợp thỏa ước lao động tập thểvô hiệu từng phần. Cách thức xử lí được quy định trong khoản 3 Điều 5 Nghị định của Chính phủ số 196/CP ngày 31/12/1994: “…Nếu trong thỏa ước lao động tập thể có những điều khoản trái pháp luật thì Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ rõ và hướng dẫn cho hai bên sửa đổi để đăng ký lại”.
  • Trường hợp thỏa ước lao động tập thể vô hiệu toàn bộ. Cách thức xử lí được quy định như sau: thỏa ước lao động tập thể vô hiệu do toàn bộ nội dung thỏa ước trái pháp luật. Cơ quan quản lí nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tuyên bố vô hiệu ngay. Thỏa ước lao động tập thể không có giá trị pháp lý trên thực tế. Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu do người kí kết không đúng thẩm quyền hoặc không tiến hành đúng trình tự kí kết, nếu nội dung đã kí kết có lợi cho người lao động thì cơ quan quản lí nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hướng dẫn để các bên làm lại cho đúng quy định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hướng dẫn, nếu không làm lại thì bị tuyên bố vô hiệu (khoản 3 Điều 48 BLLĐ).

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.