Ads Top

Chế tài trong hợp đồng mua bán tài sản


 


Chế tài trong hợp đồng mua bán tài sản được hiểu là những biện pháp tác động tới chủ thể có hành vi vi phạm hợp đồng nhằm đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho bên bị vi phạm do bên mua và bên bán thoả thuận hoặc do pháp luật quy định. Chế tài không áp dụng trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng hay hoàn toàn do lỗi của bên có quyền. Các chế tài cụ thể trong HĐMBTS:


- Buộc thực hiện đúng hợp đồng;


- Phạt vi phạm;


- Bồi thường thiệt hại;


- Huỷ bỏ hợp đồng.


1.  Buộc thực hiện đúng hợp đồng

  • Khái niệm: Buộc thực hiện đúng hợp đồng là chế tài áp dụng với bên vi phạm hợp đồng mua bán tài sản, theo đó bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện đúng nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng.
  • Nội dung của chế tài: bên vi phạm phải tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng.
  • Hậu quả pháp lý của chế tài: hợp đồng vẫn còn hiệu lực và các bên vẫn bị ràng buộc với nhau bởi  các quyền và nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng.
  • Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng khi có vi phạm hợp đồng mua bán tài sản và có thể được áp dụng theo:
  • Ø Thoả thuận trong hợp đồng hợp đồng mua bán tài sản;
  • Ø Theo quy định của Pháp luật dân sự:

+ Trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng như đã thoả thuận, bên mua có quyền nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu (Đ435.2.b BLDS).


+ Trường hợp bên bán giao vật không đồng bộ làm cho mục đích sử dụng của vật không đạt được, bên mua có một  quyền nhận và yêu cầu bên bán giao tiếp phần hoặc bộ phận còn thiếu, yêu cầu bồi thường thiệt hại và hoãn thanh toán phần hoặc bộ phận đã nhận cho đến khi vật được giao đồng bộ (Đ436.1.a BLDS).


   + Trường hợp bên bán giao vật không đúng chủng loại, bên mua có quyền yêu cầu giao đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại (Đ437.2 BLDS).


+ Trường hợp bên bán không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng về tài sản mua bán thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện (Đ442 BLDS).

  1. 1.       Phạt vi phạm

       Chế tài này được quy định tại Đ436 BLDS được áp dụng chung cho các loại hợp đồng dân sự, trong đó có hợp đồng mua bán tài sản. Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm (Đ 436.1 BLDS). Như vậy, phạt vi phạm được áp dụng khi có vi phạm hợp đồng và chế tài này phải được các bên thoả thuận trong hợp đồng (điều kiện bắt buộc). Nội dung của chế tài: bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Về mức phạt vi phạm, luật dân sự không giới hạn về mức phạt vi phạm mà do các bên thoả thuận.


3.    Bồi thường thiệt hại


Bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự (bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bù đắp tổn thất về tinh thần). Quy định này được áp dụng chung cho các loại hợp đồng dân sự, trong đó có hợp đồng mua bán tài sản (Đ 307 BLDS). Có thể hiểu chế tài bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm nghĩa vụ bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm nghĩa vụ. Nội dung của chế tài bồi thường thiệt hại: bên vi phạm bù đắp những tổn thất thực tế được tính thành tiền cho bên bị vi phạm. Mức bồi thường thiệt hại do các bên thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật nếu không có thoả thuận. Mức bồi thường thiệt hại được tính thành tiền căn cứ vào thiệt hại thực tế (như tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị  mất hoặc bị giảm sút,…). Ngoài ra, bên vi phạm được giảm mức bồi thường nếu bên bị vi phạm không áp dụng những biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép nhằm ngăn chặn và hạn chế thiệt hại.

  • Chế tài bồi thường thiệt hại được áp dụng khi có đủ 3 điều kiện :

+ Có hành vi vi phạm hợp đồng;


+ Có thiệt hại xảy ra trong thực tế;


+ Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra.

  • Chế tài bồi thường thiệt hại có thể được áp dụng theo:

– Thoả thuận trong hợp đồng mua bán tài sản;


– Theo quy định của Pháp luật dân sự:


+ Trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng như đã thoả thuận, bên mua có quyền nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Đ 435.2.a &c BLDS).


+ Trường hợp bên bán giao vật không đồng bộ làm cho mục đích sử dụng của vật không đạt được, bên mua quyền nhận và yêu cầu bên bán giao tiếp phần hoặc bộ phận còn thiếu, yêu cầu bồi thường thiệt hại và hoãn thanh toán phần hoặc bộ phận đã nhận cho đến khi vật được giao đồng bộ hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại ( Đ436.1.a &b BLDS). Trường hợp bên bán giao vật không đồng bộ làm cho mục đích sử dụng của vật không đạt được nhưng bên mua đã trả tiền và chưa nhận vật do giao không đồng bộ thì bên mua được trả lãi với số tiền đã trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại do giao vật không đồng bộ, kể từ thời điểm phải thực hiện hợp đồng cho đến khi vật được giao (Đ 436.2 BLDS).


+ Trường hợp bên bán giao vật không đúng chủng loại, bên mua có quyền yêu cầu giao đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Đ 437.2 &3 BLDS).


+ Trường hợp bên bán không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng về tài sản mua bán, bên mua đã yêu cầu bên bán phải thực hiện mà bên bán vẫn không thực hiện thì bên mua có quyền huỷ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Đ 442 BLDS).


+ Trường hợp tài sản (đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản) bị người thứ ba tranh chấp, nếu người thứ ba có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản mua bán đồng thời bên mua không biết và buộc phải biết tài sản mua bán thuộc sở hữu của người mua thì bên mua có quyền huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Đ 443.2 BLDS).


+ Trường hợp sau khi mua vật, bên mua phát hiện ra khuyết tật làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị sử dụng của vật đã mua mà không thuộc các trường hợp quy định tại Đ 444.3 BLDS thì áp dụng Đ444.1 BLDS. Theo đó, bên mua phải báo ngay khi phát hiện ra khuyết tật và có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, đổi vật có khuyết tật, giảm giá và yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu không có thoả thuận khác.


+ Đ448 BLDS quy định về bồi thường thiệt hại trong thời gian bảo hành.


Ngoài ra, còn một số trường hợp áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại cho các loại hợp đồng dân sự, trong đó có hợp đồng mua bán tài sản: Đ417 BLDS quy định về nghĩa vụ không thể thực hiện do lỗi của bên có quyền: “Trong hợp đồng song vụ, khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”, Đ425.5 BLDS: “Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn và các bên có thể thoả thuận thay thế đối tượng khác hoặc bồi thường thiệt hại”, Đ425.4 BLDS: “Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị huỷ bỏ phải bồi thường thiệt hại”, Đ426.4 BLDS: “Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị đơn phương chấm dứt phải bồi thường thiệt hại”.


4.       Huỷ bỏ hợp đồng:

  • Huỷ bỏ hợp đồng được quy định tại Điều 425 – Bộ luật Dân sự năm 2005. Quy định này được áp dụng chung cho các loại hợp đồng dân sự, trong đó có hợp đồng mua bán tài sản
  • Hậu quả pháp lý của việc huỷ bỏ hợp đồng: “Khi hợp đồng bị huỷ bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền”. Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết có nghĩa là kể từ thời điểm đó các bên không có quyền và nghĩa vụ đối với nhau.
  • Hủy bỏ hợp đồng là quyền của các bên trong hợp đồng khi có đủ 2 điều kiện sau:

+ Chủ thể bên kia vi phạm hợp đồng;


+ Vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bỏ mà các bên có thoả thuận trước hoặc pháp luật có quy định.


Khi có đủ 2 điều kiện trên thì một bên trong hợp đồng có quyền huỷ bỏ hợp đồng mà không phải bồi thường thiệt hại. Còn nếu không có hai điều kiện trên hoặc chỉ có một điều kiện thì bên huỷ bỏ hợp đồng bị coi là có lỗi trong việc bỏ hợp đồng và phải bồi thường thiệt hại.

  • Chế tài huỷ bỏ hợp đồng có thể được áp dụng theo:

– Thoả thuận trong hợp đồng hợp đồng mua bán tài sản ;


– Theo quy định của pháp luật dân sự:


+ Trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng như đã thoả thuận, bên mua có quyền huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Đ 435.2.c BLDS)


+ Trường hợp bên bán giao vật không đồng bộ làm cho mục đích sử dụng của vật không đạt được, bên mua quyền huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Đ 436.1.b BLDS).


+ Trường hợp bên bán giao vật không đúng chủng loại, bên mua có quyền huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Đ 437.3 BLDS).


+ Trường hợp bên bán không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng về tài sản mua bán, bên mua đã yêu cầu bên bán phải thực hiện mà bên bán vẫn không thực hiện thì bên mua có quyền huỷ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Đ 442 BLDS).


+ Trường hợp tài sản (đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản) bị người thứ ba tranh chấp, nếu người thứ ba có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản mua bán đồng thời bên mua không biết và buộc phải biết tài sản mua bán thuộc sở hữu của người mua thì bên mua có quyền huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Đ 443.2 BLDS).


+ Ngoài ra, Đ 417 BLDS quy định về nghĩa vụ không thể thực hiện do lỗi của bên có quyền: “Trong hợp đồng song vụ, khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.


5.  Mối quan hệ giữa các chế tài

  • Ø Do hậu quả pháp lý giữa hai chế tài buộc thực hiện hợp đồng và huỷ bỏ hợp đồng là trái ngược nhau nên hai chế tài này không bao giờ được áp dụng cùng một lúc đối với bên bị vi phạm.
  • Ø Chế tài bồi thường thiệt hại có mục đích là bù đắp những tổn thất thực tế cho bên bị vi phạm nghĩa vụ nên để bảo vệ một cách tốt nhất quyền và lợi ích của bên bị vi phạm chế tài này có thể được áp dụng cùng một lúc với các chế tài khác (buộc thực hiện hợp đồng; phạt vi phạm; huỷ bỏ hợp đồng).
  • Ø Có một chú ý trong hợp đồng dân sự là: bên vi phạm chỉ phải vừa nộp tiền phạt vi phạm vừa bồi thường thiệt hại nếu như các bên đã thoả thuận trong hợp đồng. Còn trong trường hợp chỉ thoả thuận vi phạm mà không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm (Đ422.3 BLDS).
  • Ø Phạt vi phạm trước hết có ý nghĩa phòng ngừa những vi phạm hợp đồng; sau đó mới có ý nghĩa “trừng phạt” bên vi phạm nghĩa vụ. Vì vậy, phạt hợp đồng có thể được áp dụng cùng  một lúc với các chế tài khác (buộc thực hiện hợp đồng; bồi thường thiệt hại; huỷ bỏ hợp đồng). Nhưng với điều kiện bắt buộc là chế tài phạt vi phạm phải được thoả thuận trong hợp đồng và tuân theo Đ422.3 BLDS như chú ý ở trên.

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.