Chế tài trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Kể từ khi HĐMBHH được giao kết, các bên chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện đúng hợp đồng. Việc vi phạm các nghĩa vụ theo HĐMBHH sẽ dẫn đến các bên vi phạm phải chịu những chế tài do pháp luật quy định. LTM quy định các hình thức chế tài sau đây đối với các hành vi vi phạm hợp đồng:
1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng
Theo Đ 297.1 LTM thì buộc thực hiện đúng hợp đồng là hình thức chế tài, theo đó bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện.
| Ví dụ: Ngày 1/5/2007, công ty trách nhiệm hữu hạn A kí hợp đồng mua vật liệu xây dựng với công ty B. Hai bên thoả thuận là công ty A mua xi măng của công ty B số lượng là 1000 bao, giá 90.000đ/bao; thời điểm giao hàng là ngày 20/7/2007 tại kho của công ty A. Đến thời hạn giao hàng, công ty A chỉ nhận được 700 bao, còn thiếu 300 bao so với thoả thuận trong hợp đồng. Như vậy ở đây công ty B đã có sự vi phạm số lượng hàng. Công ty A có quyền yêu cầu công ty B phải giao đủ số hàng còn lại (300 bao xi măng). |
Trên đây là một trong rất nhiều ví dụ về việc áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng. Hình thức chế tài này áp dụng khi có hành vi vi phạm và có lỗi của bên vi phạm. Biểu hiện của hình thức chế tài này là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng các nghĩa vụ hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện; việc lựa chọn dùng biện pháp nào trong hai biện pháp này thuộc quyền của bên bị vi phạm. Trong quá trình thực hiện, các chi phí phá sinh do bên vi phạm chịu. Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thường được đặt ra khi có sự vi phạm về số lượng, chất lượng, hay yêu cầu kĩ thuật của hàng hoá, dịch vụ. Đ297.2&3 LTM quy định nếu bên vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu bên vi phạm giao hàng hoá, dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng. Bên bị vi phạm cũng có thể mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên bị vi phạm phải trả chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý.
Một số điểm cần lưu ý: những trường hợp các bên thoả thuận gia hạn thực hiện nghĩa vụ thoả thuận hoặc thay thế nghĩa vụ này bằng nghĩa vụ khác thì không được coi là áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng; Có những trường hợp đủ căn cứ để áp dụng chế tài này nhưng không thể áp dụng, đó là những trường hợp mà đối tượng của hợp đồng là những loại hàng hoá chỉ có khả năng tiêu thụ trong những thời điểm đặc biệt như dịp Tết, Trung thu…Trong trường hợp này nếu bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng, hết thời gian hàng hoá có khả năng tiêu thụ bên vi phạm mới giao đủ hàng thì sẽ gây thiệt hai lớn hơn cho bên bị vi phạm, như vậy thì việc buộc thực hiện đúng hợp đồng sẽ không còn ý nghĩa nữa. Cho nên khi lựa chọn chế tài để áp dụng các bên bị vi phạm phải có sự cân nhắc sao cho hình thức chế tài được lựa chọn phù hợp với thực tế và thuận lợi nhất cho các bên.
2. Phạt vi phạm: Theo Đ30 LTM thì phạt vi phạm là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng, theo đó bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận trên cơ sở pháp luật
Điều kiện áp dụng: có sự vi phạm hợp đồng, có lỗi của bên vi phạm; và trong hợp đồng có thoả thuận trước về việc áp dụng chế tài này.
Trong trường hợp bên vi phạm hợp đồng chứng minh được việc vi phạm hợp đồng của mình thuộc các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều 294 Luật thương mại thì bên bị vi phạm không được áp dụng hình thức chế tài này. Pháp luật cho phép các bên thoả thuận trong hợp đồng về mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm tuy nhiên không được quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm[1].
3. Buộc bồi thường thiệt hại:
Theo Điều 302 Luật thương mại, bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng mà theo đó bên vi phạm phải bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.
Mục đích của chế tài này là nhằm khôi phục, bù đắp những lợi ích vật chất bị mất của bên vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá. Vì thế để áp dụng chế tài này, cần có đủ các điều kiện sau: có hành vi vi phạm hợp đồng không thuộc các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm quy định tai Điều 294 Luật thương mại; có lỗi của bên vi phạm; có thiệt hại thực tế xảy ra; và hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại[2].
Đ302.2 LTM quy định về giá trị bồi thường thiệt hại, bao gồm: giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Tuy nhiên, để được bồi thường thiệt hại và xác định giá trị bồi thường thiệt hại thì bên bị vi phạm phải có nghĩa vụ chứng minh những tổn thất và những khoản lợi đáng lẽ được hưởng đó[3]
Để bảo vệ bên vi phạm hợp đồng, pháp luật còn quy định về nghĩa vụ hạn chế tổn thất đối với bên bị vi phạm, theo đó, bên yêu cầu bồi thường thiệt hại (bên bị vi phạm) phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu không áp dụng các biện pháp đó thì bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ hạn chế được.
4. Tạm ngừng việc thực hiện hợp đồng
Tạm ngừng việc thực hiện hợp đồng là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng mà theo đó, một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán. Bên bị vi phạm không đương nhiên có quyền tạm ngừng thực hiện hợp đồng khi có sự vi phạm mà hình thức chế tài này chỉ được áp dụng trong trường hợp xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng việc thực hiện hợp đồng; hoặc trường hợp một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng [4]…
5. Đình chỉ thực hiện hợp đồng
Theo Điều 310 LTM thì đình chỉ thực hiện hợp đồng là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng, theo đó một bên chấm dứt việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mua bán hàng hoá. Chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng mua bán được áp dụng khi có đủ các điều kiện: xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng và các trường hợp này phải không thuộc các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng. Hợp đồng bị đình chỉ thực hiện sẽ chấm dứt hiệu lực ngay tại thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ, kể từ thời điểm đó các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng nữa và bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng. Bên bị vi phạm có thể áp dụng cả hình thức chế tài buộc bồi thường theo quy định của pháp luật song song với hình thức chế tài này.
6. Huỷ bỏ hợp đồng
Huỷ bỏ hợp đồng mua bán là hình thức chế tài, theo đó một bên chấm dứt thực hiện hợp đồng và làm cho hợp đồng không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Theo Điều 312 LTM thì huỷ bỏ hợp đồng bao gồm huỷ bỏ toàn phần, tức là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng; và huỷ bỏ một phần, tức là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
Tương tự như tạm ngừng thực hiện hợp đồng và đình chỉ thực hiện hợp đồng, việc áp dụng hình thức chế tài này có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của các bên, đặc biệt là bên vi phạm hợp đồng nên điều kiện áp dụng hình thức chế tài này có phần chặt chẽ hơn các hình thức khác như bồi thường, phạt vi phạm, buộc thực hiện đúng hợp đồng; hình thức chế tài này chỉ được áp dụng khi: hình vi vi phạm không thuộc các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm và phải trong trường hợp: xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để huỷ bỏ hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Hậu quả pháp lý của hình thức chế tài này là phần hợp đồng hoặc hợp đồng bị huỷ bỏ coi như không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng (hoặc phần hợp đồng), các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng (phần hợp đồng), nếu các bên đều có nghĩa vụ phải hoàn trả thì nghĩa vụ của họ được thực hiện đồng thời, trường hợp không thể hoàn trả được bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền[5]
7. Các biện pháp khác do các bên thoả thuận
Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận, vì thế luật pháp không chỉ cho phép các bên tự thoả thuận, lựa chọn áp dụng các hình thức chế tài mà luật quy định rõ điều kiện áp dụng, hậu quả pháp lý…mà còn cho phép các bên tự do thoả thuận để đưa ra các hình thức chế tài phù hợp với quy định của pháp luận. Các nguyên tắc này không được trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế.
8. Mối quan hệ giữa các hình thức chế tài
Nếu các bên không có thoả thuận khác thì trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm nhưng không được áp dụng các biện pháp chế tài khác. Quy định này nhằm tránh trường hợp bên bị vi phạm bắt bên vi phạm phải chịu quá nhiều hình thức chết tài cho một hành vi vi phạm nhỏ. Tuy nhiên nếu trong thời hạn do bên bị vi phạm ấn định mà bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì bên bị vi phạm được áp dụng chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình[6].
Khác với chế tài phạt vi phạm, chế tài bồi thường thiệt hại được áp dụng ngay cả khi không thoả thuận trong hợp đồng. Vì thế trong mối quan hệ giữa hai hình thức chế tài này luật quy định rõ tại Điều 307 LTM:
| “1. Trường hợp các bên không có thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp luật này có quy định khác. 2. Trường hợp các bên có thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp luật này có quy định khác”. |
Như vậy, các bên hoàn toàn có thể thoả thuận việc áp dụng chế tài bồi thương thiệt hại mà không áp dụng chế tài phạt vi phạm hoặc áp dụng đồng thời cả hai hình thức chế tài này vì theo quy định của luật, việc áp dụng một trong hai hình thức này không loại trừ việc áp dụng hình thức chế tài còn lại.
Khi áp dụng hình thức chế tài tạm ngừng việc thực hiện hợp đồng thì theo quy định tại điều 309 Luật thương mại, hợp đồng sẽ vẫn còn hiệu lực đối với các bên, và bên bị vi phạm có thể áp dụng đồng thời hình thức chế tài này cùng với hình thức chế tài buộc bồi thường thiệt hại.
[1] Xem Điều 301 Luật Thương Mại.
[2] Xem Điều 303 Luật Thương Mại.
[3] Xem Điều 304 LTM.
[4] Xem Điều 308 LTM.
[5] Xem điều 314 LTM.
[6] Xem Điều 299 Luật Thương Mại 2005.
Không có nhận xét nào: