Các Hiến pháp Việt Nam
1 Hiến pháp 1946
Nhận thức rõ tầm quan trọng của bản hiến văn, ngoài việc là nguồn gốc, cơ sở của các ngành luật khác, còn là một văn bản mang tính hiến chương gần giống như các bản tuyên ngôn độc lập cho Nhà nước, Đảng và Hồ Chủ tịch rất quan tâm đến việc soạn thảo và thông qua Hiến pháp. Chỉ sau ngày tuyên bố độc lập, ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chủ tịch đã đề ra sáu nhiệm vụ, trong đó có việc ban hành Hiến pháp.
(Bên cạnh đó tình hình quốc tế là sự thất bại của phe phát – xít và sự chiến thắng của phe đồng minh tạo nhiều điệu kiện thuận lợi cho nhà nước ta)
Dự thảo Hiến pháp được thông qua tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I ngày 9 tháng 11 năm 1946. Hiến pháp được thông qua thể hiện đúng tư tưởng chỉ đạo của Dảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, trai gái, giai cấp, tôn giáo; Tất cả cho cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, bảo đảm các quyền tự do dân chủ cho nhân dân và xây dựng một chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân.
Hiến pháp gồm 7 chương: Chương I nói về chính thể, Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ cộng hòa, một loại hình phổ biến của nhiều nước vừa thóat khỏi ách thống trị của thực dân phong kiến. Chương này hiến văn khẳng định bản chất Nhà nước Việt Nam – Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Việt Nam; Chương II Hiến pháp đề cập đến nghĩa vụ và quyền lợi cơ bản của công dân; Chương III đến Chương VI Hiến pháp quy định cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước – Nghị viện nhân dân, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban hành chính và Toà án.
Do tình hình chiến tranh, cho nên Hiến pháp 1946 chưa được Chủ tịch nước công bố cho toàn dân thực hiện, nhưng dựa trên sự chỉ đạo của Hồ Chủ tịch, tùy tình hình thực tiễn mà tinh thần của các quy định Hiến pháp được thực hiện trên thực tế.
2.Hiến pháp năm 1959
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, miền Bắc tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ. Hiến pháp 1946, theo nhận định của Đảng, đã hoàn thành sứ mạng của mình. Vì vậy với tình hình mới cần phải có một bản Hiến pháp mới.
Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội khóa I kỳ họp thứ 11 ngày 31/12/1959 thông qua, gồm 10 chương chia làm 112 điều.
Chương I: Quy định chính thể của Nhà nước ta vẫn là Nhà nước dân chủ cộng hòa, tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Bản chất của Nhà nước ta là “Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng của liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”.
So với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 có thêm chương nói về chế độ kinh tế và xã hội – chương II. Điều 9 của chương này quy định: “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến dần từ chủ thể dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, và kỹ thuật khoa học tiên tiến”.
Chương III, Hiến pháp 1959 quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân .
Chương IV đến chương VIII, Hiến pháp quy định về cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước.
3 Hiến pháp năm 1980
Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp 1959 hoàn thành nhiệm vụ của mình, đất nước chúng ta lại cần một bản Hiến pháp mới – Hiến pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Hiến pháp 1980 được Quốc hội khóa VI kỳ họp thứ 7 ngày 18/12/1980. Hiến pháp này gồm 12 chương có 147 điều.
Chương I, Hiến pháp quy định chế độ chính trị của nước ta là: “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước chuyên chính vô sản. Sứ mệnh lịch sử của Nhà nước, đó là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động, động viên và tổ chức nhân dân tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng; cách mạng về quan hệ sản xuất; cách mạng khoa học kỹ thuật: cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật làm then chốt, tiến hành xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội tiến tới chủ nghĩa cộng sản”.
Chương II, Hiến pháp quy định chế độ kinh tế.
Chương III, Hiến pháp quy định chính sách văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ.
Từ chương IV cho đến chương X, Hiến pháp quy định tổ chức bộ máy Nhà nước.
Cũng như Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 chứa đựng nhiều quy định của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và những nhận thức cũ của chúng ta về chủ nghĩa xã hội.
4 Hiến pháp năm 1992
Sau một thời gian phát huy hiệu lực, nhiều quy định của Hiến pháp 1980 đã tỏ ra không còn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế – xã hội đất nước. Tình hình thực tiễn của đất nước đòi hỏi phải có một bản Hiến pháp mới, phù hợp hơn để thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, nâng cao đời sống của người dân.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã mở ra một thời kỳ đổi mới ở nước ta. Đảng chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện những sai lầm của Đảng, của Nhà nước, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân lao động, trên cơ sở đó để có những nhận thức mới đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và vạch ra những chủ trương, chính sách mới nhằm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng và văn minh.
Hiến pháp 1992 gồm lời nói đầu và 147 điều chia làm 12 chương.
Chương I: Chương về chế độ chính trị, xác định những nguyên tắc cơ bản của tổ chức quyền lực chính trị Nhà nước của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đó là quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam, nguyên tắc bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc bầu cử…
Khác với Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 không dùng thuật ngữ “Nhà nước chuyên chính vô sản” mà dùng thuật ngữ “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Việc thay đổi thuật ngữ này không làm thay đổi bản chất Nhà nước mà chỉ để làm rõ bản chất Nhà nước “của dân, do dân và vì dân” của Nhà nước ta, phù hợp với chính sách đoàn kết các dân tộc, các tầng lớp trong xã hội và phù hợp với xu thế của quốc tế và thời đại.
Ngoài ra Hiến pháp 1992 còn quy định một đường lối đối ngoại rộng mở, thực hiện chính sách hòa bình hữu nghị, tăng cường giao lưu hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị – xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới, vì độc lập, hòa bình dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chính sách đối ngoại đúng đắn và phù hợp với thời đại của Hiến pháp 1992 đã tạo tiền đề cho những thắng lợi lớn của nước ta trong lĩnh vực hợp tác kinh tế với ngoài.
Chương II: Chương về chế độ kinh tế, đây là chương được thay đổi một cách cơ bản nhất, thể hiện rõ quan điểm đổi mới của đảng và Nhà nước ta. Hiến pháp xác định đường lối phát triển kinh tế của nước là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mục đích chính sách kinh tế là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới.
Như vậy, với Hiến pháp 1992, chúng ta đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế: Nhà nước, tập thể, cá thể, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước. Hiến pháp đã xác định sự bình đẳng của các thành phần kinh tế trước pháp luật, hơn nữa nhà nước còn khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam. Nhà nước đảm bảo quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Ví dụ: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như tài sản hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khác không bị quốc hữu hóa (Điều 23, Điều 25).
Chương III: Chương về văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ.
Chương IV: Chương bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Về cơ bản, chương này quy định giống như Hiến pháp 1980 là xác định đường lối quốc phòng toàn dân. Tuy nhiên Hiến pháp 1992 còn quy định bổ sung thêm về nhiệm vụ xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, dựa vào nhân dân và làm nòng cốt cho phong trào nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Điều 47).
Chương V: Chương về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. So với Hiến pháp 1980, chương này có nhiều điều hơn (có 34 điều, Hiến pháp 1980 có 28 điều ), nhiều quyền và nghĩa vụ được sửa đổi và bổ sung. Hiến pháp 1992 lần đầu tiên quy định “các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng” (Điều 50), với quy định này, người không có quốc tịch cũng được Nhà nước ta tôn trọng và bảo vệ cá quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Đặc biệt quyền tự do kinh doanh của công dân cũng lần đầu được xác lập (Điều 57). Đây là một trong những chìa khóa quan trọng để mở cánh cửa tự do trong lĩnh vực hoạt động kinh tế của công dân, ngoài ra công dân còn có quyền sở hữu “về tư liệu sản xuất, vốn và tài sản trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” (Điều 58). Những quy định này hơn bao giờ hết tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có được cuộc sống ổn định, trên cơ sở đó làm giàu cho xã hội.
Ngoài việc thiết lập các quyền mới, Hiến pháp còn sửa đổi một số quy định về quyền của công dân không còn phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước và không có tính khả thi.
Chương VI: Quốc hội, xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Quốc hội. Về cơ bản nội dung quyền hạn giống như Hiến pháp 1980 quy định, tuy nhiên có một số bổ sung về quyền hạn của Quốc hội như quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, quyết định chính sách dân tộc của Nhà nước, quyết định trưng cầu ý dân (Điều 48). Nhìn chung nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội thể hiện trên bốn lĩnh vực:
+ Lập hiến và lập pháp.
+ Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước .
+ Xây dựng, củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa.
+ Thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước.
Về cơ cấu tổ chức của Quốc hội theo Hiến pháp mới có một số thay đổi nhất định: bỏ chế định Hội đồng nhà nước vừa là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, vừa là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khôi phục lại chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội và chế định Chủ tịch nước như Hiến pháp 1959. Theo Hiến pháp 1992, Chủ tịch và các Phó chủ tịch Quốc hội đồng thời là Chủ tịch và các Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội. Một số thành viên của các Hội đồng, uỷ ban của Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên trách (Điều 94, Điều 95) để đề cao hơn nữa vai trò của đại biểu Quốc hội.
Chương VII: Chương Chủ tịch nước, giống như Hiến pháp 1959 chế định Chủ tịch nước được qui định thành một chế định riêng rẽ. So với chế định Chủ tịch nước trong các Hiến pháp trước đây, chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1992 có nhiều điểm khác biệt. Hiến pháp 1946, Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu nhà nước vừa là người đứng đầu Chính phủ nên quyền hạn rất lớn. Hiến pháp 1959 quy định Chủ tịch nước chỉ đứng đầu nhà nước chứ không đứng đầu Chính phủ nhưng quyền hạn của Chủ tịch nước vẫn rất lớn vì “của xét thấy cần thiết, có quyền tham dự và chủ toạ các phiên họp của Hội đồng Chính phủ “ (Điều 66). Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1980 không phải là cá nhân mà là là Chủ tịch tập thể. Nhưng thể chế Chủ tịch tập thể bộc lộ nhiều nhược điểm như không nhanh nhạy, không linh hoạt và khó khăn trong việc đối ngoại. Vì thế Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1992 có quyền hạn không rộng như Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 mà chủ yếu mang tính đại diện, biểu trưng cho dân tộc.
Chương VIII: Chính phủ, cũng như cơ quan “Hội đồng Chính phủ“ theo Hiến pháp 1959, Chính phủ theo Hiến pháp 1992 được qui định là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan nhà nước hành chính cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nếu so sánh cả bốn bản Hiến pháp , chúng ta thấy quan niệm về tính chất của Chính phủ có nhiều thay đổi nhất định. Hiến pháp 1946 quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của nghị viện. Hiến pháp 1980 xây dựng Chính phủ (Hội đồng Bộ trưởng) theo mô hình Hiến pháp xã hội chủ nghĩa nhưng với quan điểm quyền lực nhà nước tập trung thống nhất vào Quốc hội. Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất, thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và giám sát. Các cơ quan nhà nước khác do Quốc hội lập ra để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội.
Hiến pháp 1992 kế thừa Hiến pháp 1959 xây dựng theo quan điểm quyền lực nhà nước vẫn tập trung thống nhất nhưng cần phải có sự phân chia chức năng giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền trên. Vì vậy Hiến pháp 1992 quy định “Chính phủ lá cơ quan chấp hành cho cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam“, nhờ vậy Chính phủ có thể hoạt động một cách độc lập tương đối trong lĩnh vực hành chính nhà nước.
Cách thức thành lập Chính phủ theo Hiến pháp 1992 hoàn toàn khác với Hiến pháp 1980. Hiến pháp 1992 chí có Thủ tướng Chính phủ là do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước, còn các phó Thủ tướng, các bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ sẽ được Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. Như vậy, Hiến pháp 1992 đề cao vai trò của Thủ tướng Chính phủ trong việc thành lập Chính phủ. Có thể nói rằng đây là phương pháp hữu hiệu để xây dựng một chính quyền hành pháp mạnh mẽ. Việc tăng cường vai trò của người đứng đầu Chính phủ còn thể hiện ở việc tăng thêm nhiều quyền hạn cho Thủ tướng Chính phủ mà trước đây các Hiến pháp 1959, 1980 không quy định.
Chương IX: Chương về Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Theo Hiến pháp 1992, nước ta chia làm ba đơn vị hành chính: tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã; xã, phường và thị trấn. Ở tất cả các đơn vị hành chính nói trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Tính chất của Hội đồng nhân dân vẫn như cũ là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra nhưng Hiến pháp mới nhấn mạnh tính đại diện của Hội đồng nhân dân hơn, làm cho Hội đồng nhân dân thực sự trở thành cơ quan có nhà nước quan trọng đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Theo quy định của Hiến pháp 1992, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân được tăng cường. Một số quyền hạn trước đây thuộc tập thể Ủy ban nhân dân, nay chuyển cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân ( xem Điều 124 ).
Hiến pháp mới đề cao hơn nữa vai trò của các tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng trong quản lý nhà nước và xã hội.
Theo quy định của Hiến pháp mới, có thể nói nhiệm vụ của toà án và Viện kiểm sát nhân dân không có gì thay đổi so với Hiến pháp 1980. Về tổ chức hệ thống cơ quan toà án được qui định tại Điều 127 – Hiến pháp 1992 và được cụ thể hóa bằng Luật tổ chức toà án nhân dân năm 1992, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật tổ chức toà án nhân dân năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật tổ chức toà án nhân dân năm 1995. Theo quy định của các văn bản pháp luật trên, nước ta có các toà án sau đây:
– Toà án nhân dân tối cao;
– Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
– Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã , thành phố thuộc tỉnh;
– Toà án quân sự .
– Các toà án khác do luật định.
Trước năm 1992 trong hệ thống toà án nhân dân ở nước ta chỉ có toà hình sự và toà dân sự. Đến nay trong hệ thống toà án cấp trung ương và cấp tỉnh còn có thêm toà lao động, toà kinh tế và toà hành chính.
Sự khác nhau cơ bản giữa tổ chức toà án nhân dân theo Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 1980 là Hiến pháp 1980 thực hiện chế độ thẩm phán bổ nhiệm. Dựa trên tinh thần của Hiến pháp, luật tổ chức toà án nhân dân 1992 đã quy định chỉ có Chánh án toà án nhân dân tối cao là do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước, còn tất cả các thẩm phán của toà án nhân dân các cấp kể cả Phó chánh án Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đều do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức (Điều 38). Nhiệm kỳ bổ nhiệm của các thẩm phán là 5 năm. Còn đối với các hội thẩm nhân dân thì kết hợp giữa chế độ cử và chế độ bầu.
Về nguyên tắc xét xử, Hiến pháp 1992 ghi nhận lại những nguyên tắc đã quy định trong Hiến pháp 1980. Về Viện kiểm sát nhân dân, Hiến pháp 1992 cũng xác định tính chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như trước đấy nhưng về tổ chức và trách nhiệm cũng có những thay đổi và bổ sung nhất định. Theo quy định của Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 cụ thể hóa quy định của Hiến pháp thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ủy ban kiểm sát. Một số vấn đề trước đây do các Viện trưởng quyết định thì nay chuyển sang cho Ủy ban kiểm sát (xem Điều 28, 30 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992). Ngoài ra còn có quy định mới về việc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại diện Hội đồng nhân dân (Điều 140 – Hiến pháp 1992).
Các qui định trên đây về Viện kiểm sát nhân dân cho thấy Hiến pháp 1992 một mặt vẫn đề cao chế độ làm việc theo nguyên tắc thủ trưởng và trực thuộc một chiều để đề cao tính độc lập của Viện kiểm sát nhân dân, mặt khác phải kết hợp nguyên tắc này với chế độ bàn bạc tập thể khi Viện kiểm sát nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng. Đồng thời Hiến pháp 1992 cũng quy định sự giám sát của Quốc hội cũng như Hội đồng nhân dân các cấp đối với hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.
Chương XI: Quy định về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô, ngày Quốc khánh. Chương này về cơ bản giữ nguyên các qui định của Hiến pháp 1980, chỉ bổ sung thêm về việc quy định ngày Quốc khánh của nước ta là ngày 2/9 – ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Chương XII: Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp là chương cuối cùng, nội dung chương này hoàn toàn giống quy định của Hiến pháp 1980.
Tóm lại, Hiến pháp 1992 đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của lịch sử lập hiến Việt Nam. Đây là bản Hiến pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới toàn diện và sâu sắc về kinh tế, từng bước và vững chắc về chính trị. Đây là bản Hiến pháp kế thừa có chọn lọc những tinh hoa của các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, đồng thời là bản Hiến pháp vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Hiến pháp 1992 đánh dấu sự phục hưng và phát triển của nền tảng kinh tế của xã hội Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ. Được ban hành trong tình hình thế giới đang có những biến động nhanh chóng, phức tạp, trước sự đổ vỡ của nhiều nước xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện công cuộc đổi mới mặc dù đã dành được một số thắng lợi, nhưng còn rất nhiều khó khăn, Hiến pháp 1992 là biểu hiện sự đồng tâm, nhất trí cao độ của Đảng và nhân dân ta trong việc tiếp tục con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Ngoài ra, đây còn là bản Hiến pháp thể hiện sự độc lập và tự chủ trên tiến trình phát triển của nền triết học pháp quyền Việt Nam, một nền triết học pháp quyền thể hiện bản sắc dân tộc, đồng thời kết hợp nhuần nhuyễn với tính quốc tế và hiện đại trên cơ sở phát triển những tinh hoa của nền văn hóa pháp lý Việt Nam và sự tiếp thu những tinh hoa văn hóa pháp lý thế giới.
Không có nhận xét nào: