Ads Top

Sự phát triển của Hiến pháp



2. Sự ra đời và phát triển của Hiến pháp tư sản


Giai cấp tư sản vốn là một bộ phận dân cư trong các giai cấp bị áp bức, nên cũng phải gánh chịu ách thống trị của phong kiến chuyên chế. Đồng thời trong lòng xã hội phong kiến, giai cấp tư sản lại là người đại diện cho một phương thức sản xuất mới ra đời và đang lên, rồi dần dần trở thành một giai cấp có địa vị độc lập về kinh tế và nhờ thế, sớm trưởng thành ý thức phản kháng, chống đối chế độ phong kiến đã rệu rã. Giai cấp tư sản đã đứng lên phất ngọn cờ tự do, dân chủ, bình đẳng để tập hợp quần chúng lao động bị áp bức, bóc lột nhằm lật đổ chế độ  phong kiến và nền thống trị phản dân chủ. Khẩu hiệu lập hiến đã ra đời trong cuộc vận động đấu tranh này của giai cấp tư sản. Và đây là một yêu cầu tiến bộ phù hợp với đa số các tầng lớp nhân dân đang bị giai cấp phong kiến thống trị.


Nội dung của khẩu hiệu lập hiến tư sản thể hiện ở chỗ: yêu cầu xây dựng một bản Hiến pháp là cơ sở pháp lý cơ bản hạn chế quyền hành vô hạn của Vua bằng cách lập ra một cơ quan đại diện quyền lực (Nghị viện) gồm các đại diện do cử tri trực tiếp bầu ra, cùng Vua thực thi quyền lực nhà nước và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân, xoá bỏ chế độ quân chủ, lập ra nền cộng hòa tư sản. Cùng với khẩu hiệu lập hiến, thuyết phân chia quyền lực mà điển hình là thuyết “phân quyền tam lập” của Môngtexkiơ  được phổ biến rộng rãi, theo thuyết này quyền lực nhà nước phân chia thành ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp giao cho ba cơ quan khác nhau nắm giữ. Ba cơ quan này vừa độc lập trong việc thực hiện các quyền của mình, vừa chế ước đối trọng lẫn nhau, qua đó tạo nên sự cân bằng quyền lực, tránh sự lạm quyền và nhờ đó các quyền của người dân mới được đảm bảo.


Khi đã giành được chính quyền trở thành giai cấp thống trị, giai cấp tư sản sử dụng Hiến pháp để thể chế hóa quyền thống trị của giai cấp mình dưới hình thức các quy định của Hiến pháp về tự do, dân chủ, bình đẳng và cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước theo lối phân quyền. Chính nhờ cách tổ chức quyền lực này mà lợi ích của giai cấp tư sản được bảo đảm. Bởi vì, dưới các quy định ghi nhận các quyền tự do, dân chủ, bình đẳng được nêu cao trong các cuộc cách mạng tư sản đã che đậy được bản chất bóc lột vốn chứa sẵn trong nền thống trị tư sản, hơn nữa việc ghi nhận các quyền tự do, dân chủ mà trước hết là quyền tự do về kinh tế là phù hợp với quan hệ sản xuất tư sản chủ nghĩa. Đồng thời với cơ chế tổ chức nhà nước theo nguyên tắc phân quyền đã tránh được sự lạm quyền, sự can thiệp dễ dãi của các cơ quan chính quyền vào hoạt động kinh doanh vốn được xem là “lĩnh vực tư” – nơi các cá nhân tư sản  tự do định đoạt và hạn chế được nguy cơ độc quyền kéo dài của một tập đoàn, một nhóm lực lượng giai cấp mà lợi ích các cá nhân tư sản không thể chấp nhận được.


Như vậy, sự xuất hiện và tồn tại của Hiến pháp tư sản có nguồn gốc sâu xa trong các mối quan hệ tư bản chủ nghĩa nhất là quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế. Hiến pháp tư sản là công cụ sắc bén của nền chuyên chính tư sản, phục vụ trước hết cho lợi ích của giai cấp tư sản. Với sự ra đời của Hiến pháp tư sản, một chế độ chuyên chính tư sản được xác lập. Nói theo Lênin thì “Mọi cuộc cách mạng tư sản … cuối cùng, không có gì hơn là quá trình xây dựng một chế độ lập hiến”. Bởi vì, Hiến pháp chính là loại văn bản rất thích hợp mà giai cấp tư sản có thể sử dụng nhằm thể chế hóa quyền thống trị của giai cấp mình dưới hình thức các quy định Hiến pháp về tự do, dân chủ, bình đẳng một cách chung chung và thuần tuý.


Trong quá trình phát triển,  Hiến pháp tư sản đã trải qua các giai đoạn sau:


Giai đoạn đầu: khi giai cấp tư sản mới giành chiến thắng, Hiến pháp ghi nhận thắng lợi của dân chủ, tuyên bố các quyền công dân, hạn chế quyền của Vua, xoá bỏ và chống lại sự lạm quyền, can thiệp của quyền lực công vào hoạt động kinh doanh.


+ Giai đoạn trước và sau cách mạng tháng Mười Nga (1917), khi các giai cấp lao động, trước hết là giai cấp công nhân đã trở thành một lực lượng độc lập về tư tưởng, tổ chức, đã tiến hành đấu tranh chống nền thống trị tư bản thì Hiến pháp tư sản phản ánh sự tương quan lực lượng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản còn nội dung thường dừng lại ở các quy định chung, ngắn, thiếu cụ thể, phạm vi chỉ bó hẹp trong việc ấn định  cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước và một số quyền tự do cá nhân.


+ Giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, trước ảnh hưởng ngày càng lớn mạnh của phong trào nhân dân trong nước và của nền lập hiến xã hội chủ nghĩa đã có những sửa đổi căn bản, Hiến pháp tư sản đã quy định tương đối đầy đủ các quyền chính trị, kinh tế, xã hội của công dân, xây dựng nhà nước pháp quyền … Nhìn chung là có nhiều điểm tiến bộ hơn.            Tóm lại, mỗi bản Hiến pháp tư sản ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, mang theo những dấu ấn đặc thù của hoàn cảnh đó nhưng về cơ bản, các Hiến pháp tư sản đều thể hiện và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản.


2. Sự ra đời và phát triển của Hiến pháp xã hội chủ nghĩa


Chủ nghĩa xã hội và Hiến pháp có mối quan hệ khăng khít với nhau, do bắt nguồn từ bản chất của chế độ xã hội từ những điều kiện chính trị, kinh tế, ý thức hệ của chủ nghĩa xã hội và cũng chính từ những giá trị xã hội của Hiến pháp với tính cách là một nguồn pháp luật đặc thù, vốn mang trong mình những đặc trưng ít thấy ở những nguồn pháp luật khác.


Việc xây dựng một chế độ xã hội mới với một nền kinh tế có sự điều tiết của nhà nước; một chính quyền nhà nước và một cơ cấu sinh hoạt cộng đồng được tổ chức trên nền tảng dân chủ, đảm bảo lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tất yếu đề ra yêu cầu thể chế hóa mọi mặt đời sống xã hội thành những chế định, những thể chế cơ bản xác lập và bảo đảm một trật tự kỷ cương cần thiết cho sự phát triển.


Mác, Ăngghen, Lênin trên cơ sở phê phán toàn diện nền lập hiến tư sản đã chỉ rõ sự thắng lợi của cách mạng vô sản có nghĩa là sự thủ tiêu nhà nước và pháp luật tư sản và sự xác lập một cơ sở lập hiến cho toàn bộ đời sống xã hội.


Ngày 10/7/1918, tức là tám tháng sau khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười thắng lợi và nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên ra đời, Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội nhà nước liên bang Nga, bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên được ban hành, mở đầu một giai đoạn phát triển mới của nền lập hiến thế giới. Trước Hiến pháp 1918, chính quyền Xô Viết đã ban hành một loạt các sắc lệnh như Sắc lệnh về ruộng đất, Sắc lệnh thành lập Chính phủ … Những văn bản này đã thực sự dọn đường cho sự ra đời một kiểu Hiến pháp mới. Hiến pháp gồm 17 chương, 6 phần và 90 điều, được mở đầu bằng Tuyên ngôn về các quyền của nhân dân lao động bị áp bức. Hiến pháp ghi nhận sự củng cố nền chuyên chính của giai cấp vô sản được thiết lập do kết quả thắng lợi của Cách mạng tháng Mười dưới hình thức Cộng hòa Xô Viết, quy định các quyền dân chủ và các nghĩa vụ của công dân, quy định hình thức liên bang của Cộng hòa Liên bang Nga và quy định hệ thống các cơ quan nhà nước Xô Viết.


Hiến pháp 1918 đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển Hiến pháp nói chung. Đánh giá ý nghĩa của Hiến pháp 1918, Lênin viết: “… Đó là bản Hiến pháp đầu tiên tuyên bố chính quyền nhà nước của nhân dân lao động, hủy bỏ quyền của bọn bóc lột, những kẻ chống đối xây dựng một cuộc sống mới.” Theo mô hình của Hiến pháp này, các nước Cộng hòa Xô Viết khác cũng lần lượt thông qua Hiến pháp của mình trong những năm 1919 – 1922.


Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết (Liên Xô) được thành lập năm 1922, vì thế cần thiết phải xây dựng một bản Hiến pháp  chung cho Liên Xô. Hơn một năm sau, vào năm 1924 bản Hiến pháp Liên Xô đầu tiên được thông qua, Hiến pháp ghi nhận và củng cố việc hợp nhất trên cơ sở tự nguyện của các nước Cộng hòa Xô Viết thành một nhà nước liên bang, phân định các quyền của liên bang và các nước cộng hòa, thiết lập cơ cấu hệ thống các cơ quan nhà nước tối cao ở liên bang và ở các nước cộng hòa, vạch ra con đường phát triển hơn nữa của các dân tộc ở Liên Xô tiến lên chủ nghĩa xã hội.


Bản Hiến pháp thứ ba của Liên Xô được thông qua năm 1936, đây là bản Hiến pháp ghi nhận thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, ghi nhận quyền lực thuộc về nhân dân lao động thông qua các Xô viết đại biểu nhân dân lao động.


Sau này Liên Xô có Hiến pháp thứ tư – Hiến pháp 1977 ghi nhận sự thắng lợi triệt để của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, tuyên bố bước vào xây dựng nhà nước toàn dân. Tuy nhiên, công cuộc cải tổ thiếu phương pháp đã dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Xô viết đầu những năm 1990. Từ những năm này, cũng như ở Liên Xô chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu sụp đổ, Hiến pháp xã hội chủ nghĩa bị bãi bỏ và thay bằng các Hiến pháp mới.


Nhìn lại, trong những năm 1944 – 1945, nhờ sự thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của Liên Xô chống lại chủ nghĩa phát xít và của cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân các nước bị nô dịch, nhiều nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu, Châu Á ra đời và đứng vào hàng ngũ các nước xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn hai của nền lập hiến xã hội chủ nghĩa bắt đầu bằng việc ban hành các Hiến pháp Bungary (1947), Hungary (1949), Rumani (1948), Ba Lan (1952). Ơí các nước Châu Á, Hiến pháp của các nước dân chủ nhân dân lần lượt ra đời như Hiến pháp Việt Nam (1946), Triều Tiên (1948), Trung Quốc (1954). Đến những năm 1960-1970 các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu chuyển sang một giai đoạn phát triển mới. Ơí đó đã ban hành các Hiến pháp mới thay thế. Bungary có Hiến pháp 1971, Rumani có Hiến pháp 1965, …

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.