Sự hình thành và phát triển của pháp luật quốc tịch Việt Nam từ năm 1945 đến 1998
Dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, nước ta không có độc lập, dân ta không có tự do và không có chủ quyền. Do không có Nhà nước Việt Nam độc lập, có chủ quyền nên cũng không có quốc tịch Việt Nam.
Với thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Để khẳng định và thực hiện chủ quyền của Nhà nước, để ghi nhận về mặt pháp lí địa vị xã hội thực tế mới của nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh đã thay mặt Nhà nước ta kí một số sắc lệnh quy định vấn đề quốc tịch Việt Nam. Đó là Sắc lệnh số 53 – SL ngày 20/10/1945, Sắc lệnh số 73-SL ngày 07/12/1045, Sắc lệnh số 25-SL ngày 25/12/1946, Sắc lệnh số 215-SL ngày 20/10/1948, Sắc lệnh số 05-SL ngày 12/12/1959. Về sau pháp luật quốc tịch Việt Nam được bổ sung bởi nghị quyết số 1013 NQ/TVQH ngày 08/12/1971 của Quỷ ban thường vụ Quốc hội.
Các văn bản pháp luật quốc tịch nêu trên đã đáp ứng một cách kịp thời, thiết thực yêu cầu chính trị là xác định được quốc tịch của công dân Nhà nước ta, làm cơ sở và tạo điều kiện đảm bảo cho công dân được hưởng các quyền về mọi mặt đồng thời làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước. Tuy nhiên, do điều kiện lúc đó, các quy định trên còn tản mạn, thiếu hệ thống và chưa hoàn chỉnh.
Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, những vấn đề có tính chất hạn chế trên đã được Nhà nước ta đặt vấn đề giải quyết. Ngày 28/6/1988, tại kì họp thứ 3, Quốc hội khóa VIII đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam – đạo luật đầu tiên của Nhà nước ta về quốc tịch. Sau gần 10 năm thực hiện, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988 đã phát huy những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, do được ban hành vào những năm đầu của sự nghiệp đổi mới, kinh nghiệm lập pháp tích lũy chưa nhiều, các quy định của Luật quốc tịch Việt Nam còn mang tính chất luật khung, khái quát, chưa cụ thể và khó áp dụng trong thực tế,…
Quá trình tổng kết thực tiễn gần 10 năm thực hiện cho thấy cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật quốc tịch năm 1988, nhằm đảm bảo Luật quốc tịch phù hợp với Hiến pháp 1992, tạo cơ chế đồng bộ thực hiện nguyên tắc một quốc tịch, giải quyết tồn tại về hai quốc tịch, tăng cường quản lí về quốc tịch và bổ sung các vấn đề mới chưa được quy định. Trước những đòi hỏi như vậy, tại kì họp thứ 3, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam 1998, có hiệu lực từ 01/01/1999.
Không có nhận xét nào: