Ads Top

Quan hệ pháp luật luật Hiến pháp



Quan hệ pháp luật luật Hiến pháp là những quan hệ xã hội được các quy phạm của ngành luật Hiến pháp điều chỉnh. Cũng giống như tất cả các quan hệ pháp luật khác, các quan hệ pháp luật luật Hiến pháp đều có những đặc điểm chung như: Cần có những điều kiện để phát sinh, thay đổi hoặc đình chỉ và các bảo đảm để thực hiện; tính xác định của các chủ thể, khách thể: nội dung của các quan hệ pháp luật luật Hiến pháp bao giờ cũng phản ảnh ý chí của các chủ thể… Tuy nhiên các quan hệ pháp luật luật Hiến pháp cũng có những đặc điểm riêng so với các quan hệ pháp luật khác.


Chủ thể của quan hệ pháp luật luật Hiến pháp


Các chủ thể trong các quan hệ luật Hiến pháp có rất nhiều loại, có vị trí và tính chất rất khác nhau, bao gồm:


Nhân dân


Nhân dân theo nghĩa rộng bao gồm cả dân tộc, các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội, là một loại chủ thể đặc biệt chỉ có trong các quan hệ luật Hiến pháp mà không có trong các quan hệ của các ngành luật khác.


Ví dụ: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2 Hiến pháp 1992 sửa đổi).


Trong một số trường hợp, khái niệm nhân dân được hiểu theo nghĩa hẹp hơn như cử tri, hội nghị cử tri, các dân tộc…


Ví dụ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.” (Điều 5 Hiến pháp 1992 sửa đổi).


Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam


Là một tổ chức chính trị đặc biệt của xã hội, Nhà nước tham gia vào rất nhiều quan hệ luật Hiến pháp với tư cách là chủ thể trong các quan hệ đó.


Ví dụ: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân“    (Điều 3 Hiến pháp 1992 sửa đổi).


Các cơ quan Nhà nước


Trong phần lớn các quan hệ luật Hiến pháp, các cơ quan nhà nước như: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân  Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân đều là những chủ thể.


Ví dụ: Một trong những nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội là “Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương”. (Khoản 6 Điều 84 Hiến pháp 1992 sửa đổi).


Ngoài các cơ quan nhà nước hoạt động thường xuyên, các cơ quan lâm thời của Nhà nước như: Ủy ban dự thảo (sửa đổi) Hiến pháp, Ủy ban kiểm tra tư cách đại biểu Quốc hội, Hội đồng bầu cử … cũng đều là những chủ thể trong nhiều quan hệ luật Hiến pháp.


Các tổ chức xã hội


Cùng với sự phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, các tổ chức xã hội ngày càng phát triển và tham gia ngày càng nhiều vào các quan hệ xã hội mà trước hết là quan hệ luật Hiến pháp.


Ví dụ : “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội” (Điều 87 Hiến pháp 1992 sửa đổi)


Các đại biểu dân cử


Với tư cách là người đại diện cho nhân dân thực hiện quyền lực của nhân dân, các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân tham gia vào nhiều quan hệ pháp luật luật Hiến pháp như: Đại biểu Quốc hội phải thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri… hay đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân về những vấn đề mà mình quan tâm.


Công dân Việt Nam


Trong quan hệ với Nhà nước, công dân Việt Nam với tư cách là người chủ của Nhà nước, có địa vị pháp lý khác với những người không phải là công dân Việt Nam. Công dân Việt Nam là chủ thể của rất nhiều quan hệ pháp luật luật Hiến pháp.


Ví dụ: ”Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân” (Điều 77 Hiến pháp sửa đổi).


Những người có chức trách trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội


Trong nhiều quan hệ pháp luật Hiến pháp, những người có chức trách trong các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội như Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam … đều là những chủ thể.


Ví dụ: ”Chủ tịch Quốc hội chủ toạ các phiên họp của Quốc hội; ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo công tác của Ủy ban thường vụ Quốc hội; tổ chức quan hệ đối ngoại của Quốc hội, giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội” (Điều 91 Hiến pháp 1992 sửa đổi).


Người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam


Trong một số trường hợp, người nước ngoài (người không có quốc tịch Việt Nam) là chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật luật Hiến pháp.


Ví dụ : Công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện về năng lực hành vi dân sự, thời gian cư trú, trình độ tiếng Việt, khả năng tài chính… thì có thể được xét cho nhập quốc tịch Việt Nam (Điều 20 Luật Quốc tịch 1998).


Như vậy, các quan hệ pháp luật luật Hiến pháp có mộtphạm vi chủ thể đặc biệt hơn các quan hệ pháp luật khác.


Khách thể của quan hệ pháp luật luật Hiến pháp


Đó là những vấn đề hoặc những hiện tượng thực tế mà các quy phạm luật Hiến pháp tác động đến, trên cơ sở đó gắn quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật luật Hiến pháp.


Khách thể tổng quát của quan hệ pháp luật Hiến pháp là hiện tượng tổ chức quyền lực nhà nước. Căn cứ vào tính chất, các khách thể trong quan hệ pháp luật luật Hiến pháp có thể chia thành các nhóm sau đây:


– Lãnh thổ quốc gia và địa giới giữa các địa phương.


Ví dụ : Quốc hội có quyền “thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ”  (Khoản 8 Điều 84 Hiến pháp 1992 ).


– Những giá trị vật chất như: Đất đai, rừng núi, sông, hồ, nước, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, thềm lục địa…


– Những lợi ích tinh thần của cá nhân như danh dự, nhân phẩm, sự tín ngưỡng…


– Hành vi của con người hoặc các tổ chức như lao động, học tập, trình dự án luật, báo cáo công tác, quyết định kế hoạch và ngân sách, quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội …


Ngoài những đặc điểm chung so với các quan hệ xã hội khác, quan hệ pháp luật luật Hiến pháp còn có những đặc điểm riêng để phân biệt với các quan hệ pháp luật khác. Đó là:


+ Luật Hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất mang tính định hướng và nguyên tắc, những nội dung này làm cơ sở pháp lý cho việc xây dựng mới, sửa đổi hay hủy bỏ các quy phạm của các ngành luật khác.


+ Các quan hệ pháp luật luật Hiến pháp có một phạm vi chủ thể đặc biệt như: Nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Hội đồng bầu cử…



Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • ví dụ về quan hệ pháp luật
  • quan he phap luat hien phap
  • chủ thể của quan hệ pháp luật hiến pháp
  • đặc điểm của quan hệ pháp luật luật hiến pháp
  • Phân tích đặc điểm của quan hệ pháp luật luật hiến pháp cho ví dụ
  • phân tích đặc điểm quan hệ pháp luật của luật hiến pháp
  • phân tích quan hệ pháp luật hiến pháp
  • Quan hệ pháp luật luật hiến pháp
  • quan hệ pháp luật luật hoeesn pháp
  • phân tích các đặc điểm của quan hệ pháp luật hiến pháp
  • ,

    Không có nhận xét nào:

    Được tạo bởi Blogger.