Ads Top

Quá trình phát triển của pháp luật về hành vi tập trung kinh tế tại Việt Nam



 Các quy định về hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua bán cổ phần, chuyển nhượng vốn góp trong các loại công ty và góp vốn thành lập doanh nghiệp con… đã được ghi nhận trong pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật chứng khoán ngay từ giai đoạn đầu của thời kỳ xây dựng thị trường tại Việt Nam. Các hành vi tập trung kinh tế chỉ thực sự trở thành một nội dung nghiên cứu sâu rộng kể từ khi Luật Cạnh tranh được manh nha hình thành. Có thể tạm chia quá trình nhận thức về tập trung kinh tế thành hai giai đoạn căn cứ vào thời điểm ban hành Luật Cạnh tranh.


1 . Giai đoạn trước khi Luật Cạnh tranh được ban hành


Luật Công ty năm 1990 ghi nhận quyền quyết định việc sáp nhập công ty trách nhiệm hữu hạn của các thành viên, quyền chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng cổ phần của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần; Điều 20 Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995 quy định việc sáp nhập là một trong những giải pháp tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước; tương tự, Điều 44 Luật Hợp tác xã năm 1997 ghi nhận quyền hợp nhất các hợp tác xã với nhau. Tuy nhiên, các quy định kể trên có nội dung khá nghèo nàn và đơn giản là việc ghi nhận các quyền cơ bản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc thành viên của công ty. Ngay cả thủ tục để thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất chưa được quy định cụ thể.


Luật Doanh nghiệp năm 1999 thay thế Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty năm 1990 ghi nhận khá đầy đủ về các giải pháp tổ chức lại công ty, trong đó có hai giải pháp liên quan trực tiếp đến tập trung kinh tế là sáp nhập và hợp nhất công ty; ngoài ra các quy định về chuyển nhượng vốn, mua bán cổ phần, phát hành cổ phần, cổ phiều được quy định chi tiết và chặt chẽ hơn so với hai đạo luật mà nó kế thừa. Ngoài Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định và xây dựng lộ trình, thủ tục thực hiện các biện pháp tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu đối với công ty nhà nước gắn liền với tập trung kinh tế như sáp nhập, hợp nhất, khoán, cho thuê, bán toàn bổ hoặc một phần công ty Nhà nước(Chương VII, Chương VIII Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003.).


Trong giai đoạn này, pháp luật và khoa học pháp lý chưa nhìn nhận việc sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng vốn góp, mua bán cổ phần và liên doanh thành lập doanh nghiệp từ góc độ của lý thuyết cạnh tranh. Các chế định trong các văn bản pháp luật nói trên chỉ giải quyết vai trò quản lý nhà nước về doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, ghi nhận và bảo đảm cho quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp mà chưa đề cập đến nhiệm vụ quản lý, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, an toàn cho nền kinh tế. Nói cách khác, trong giai đoạn này, pháp luật thiên về tổ chức doanh nghiệp, về việc thực thi quyền đầu tư, quyền sở hữu trong doanh nghiệp. Các vấn đề nói trên chưa được giải quyết theo pháp luật cạnh tranh. Có thể lý giải  nguyên nhân cơ bản là do nhiệm vụ của pháp luật kinh tế trong thời kỳ này là xây dựng các thiết chế để gia nhập thị trường.


 .2 . Giai đoạn sau khi Luật Cạnh tranh được ban hành


Luật Cạnh tranh được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 09/11/2004 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2005. Ngoài các quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh và tố tụng cạnh tranh… Luật Cạnh tranh còn quy định về các hình thức tập trung kinh tế, các biện pháp kiểm soát và nguyên tắc xử lý đối với tập trung kinh tế trên thị trường Việt Nam, là văn bản đầu tiên quy định một cách toàn diện các vấn đề về cạnh tranh và chính thức đặt các vấn đề về sáp nhập hợp nhất, chuyển nhượng vốn, cổ phần, tài sản và liên doanh dưới góc độ của việc bảo vệ môi trường cạnh tranh. Các nguyên tắc mà Luật Cạnh tranh quy định đã có những ảnh hưởng nhất định đến các lĩnh vực pháp luật khác như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán…. Cụ thể là, ngoài những quy định về thủ tục liên quan đến đăng ký kinh doanh, tổ chức quản lý, hoạt động và tổ chức lại doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã tiếp thu các nguyên tắc kiểm soát sáp nhập hợp nhất của Luật Cạnh tranh; Luật Đầu tư ghi nhận các hình thức đầu tư có liên quan đến tập trung kinh tế như mua chi nhánh, mua công ty.


 3 . Một số nhận xét


Từ lịch sử phát triển, có thể đánh giá một cách khái quát thực trạng của pháp luật về tập trung kinh tế tại Việt Nam như sau:


Một là, dù nhận thức chưa toàn diện, song các vấn đề về tập trung kinh tế như sáp nhập, mua bán cổ phần, chuyển nhượng vốn góp, liên doanh… đã được chi nhận trong pháp luật như một nội dung cơ bản của tự do kinh doanh và được bảo đảm thực hiện bằng những thủ tục tương ứng với từng giai đoạn gia nhập thị trường. Những quy định sơ khai nói trên trở thành nền tảng cho sự tiếp nhận các lý thuyết cạnh tranh vào pháp luật cạnh tranh của Việt Nam.


Hai là, có thể chia pháp luật liên quan đến các biện pháp tập trung kinh tế hiện nay thành hai nhóm tương ứng:


–                      Pháp luật quản lý nhà nước đối với hoạt động sáp nhập, hợp nhất công ty, chuyển nhượng vốn, mua bán cổ phần, cổ phiếu và góp vốn thành lập doanh nghiệp… bao gồm các quy định nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật các tổ chức tín dụng…. Đặc trưng của nhóm này là pháp luật tổ chức doanh nghiệp, tổ chức quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh với nhiệm vụ cơ bản là xây dựng và duy trì các bộ phận cấu trúc nên thị trường. Nội dung của các quy định nói trên không trực tiếp và không giải quyết vấn đề cạnh tranh mà chỉ ghi nhận các quyền của doanh nghiệp, của các nhà đầu tư và quy định các thủ tục tương ứng để đảm bảo thực hiện vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh, bao gồm vấn đề tổ chức doanh nghiệp.

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.