Pháp luật về dịch vụ trung gian thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, các hoạt động thương mại diễn ra ngày càng sôi nỗi. bên cạnh phương thức truyền thống gặp nhau trực tiếp để giao kết hợp đồng giữa bên bán và bên mua, giữa bên cung ứng & bên thuê dịch vụ, thì các chủ thể kinh doanh cũng cần đến 1 phương thức mới mẻ hơn giúp họ xâm nhập những thị trường mới một cách an toàn mặc dù chưa có hệ thống khách hàng, không am hiểu
thị trường, không biết rõ pháp luật và tập quán thương mại địa phương, không thông thạo nghiệp vụ địa phương… và do đó dịch vụ trung gian thương mại ra đời là tất yếu
Giao dịch qua trung gian trong hoạt động thương mại là phương thức giao dịch trong đó mọi việc thiết lập quan hệ giữa người mua và người bán hàng hóa (người cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ) và việc xác định các điều kiện giao dịch được tiến hành thông qua một người trung gian.
Các hình thức trung gian thương mại: đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa, đại lý thương mại
I. Đại diện cho thương nhân
1. khái niệm: Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ quyền (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện (Điều 141 LTM 2005)
2. đặc điểm
- chủ thể
– bên đại diện và bên giao đại diện đều phải là thương nhân
– bên đại diện sẽ nhân danh bên giao đại diện trong quan hệ với bên thứ ba
– bên đại diện hoạt động trong phạm vi bên giao đại diện ủy quyền
– bên giao đại diện sẽ chịu trách nhiệm về các cam kết do bên đại diện thực hiện trong phạm vi ủy quyền
- nội dung hoạt động
– các bên tự thỏa thuận một phần hoặc toàn bộ các hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện
– hoạt động đại diện cho thương nhân bao gồm việc tìm hiểu các cơ hội kinh doanh cho thương nhân giao đại diện và được tiến hành trong suốt thời gian giao đại diện.
– cùng 1 lúc bên đại diện có thể tiến hành đại diện cho nhiều thương nhân trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
3. Hợp đồng đại diện cho thương nhân: quan hệ đại diện cho thương nhân phát sinh trên cơ sở hợp đồng đại diện
Chủ thể:
– Thương nhân giao đại diện phải có quyền thực hiện hoạt động thương mại mà mình ủy quyền
VD: thương nhân A ủy quyền cho thương nhân B làm đại diện cho mình trong việc bán vật liệu trang trí nội thất thì thương nhân A phải có đăng ký kinh doanh ngành nghề kinh doanh trang trí nội thất
– Thương nhân đại diện phải có đăng ký kinh doanh dịch vụ đại diện
Đối tượng: là công việc mà bên đại diện phải thực hiện trên danh nghĩa và theo sự chỉ dẫn của bên giao đại diện
Nội dung hợp đồng đại diện: LTM 2005 đã bỏ quy định về nội dung chủ yếu của HĐ đại diện. Luật khuyến nghị các bên nên thỏa thuận về những điều khoản như phạm vi đại diện, thời hạn đại diện, mức thù lao trả cho bên đại diện, thời gian phương thức thanh toán tiền thù lao cho việc đại diện, quyền & nghĩa vụ các bên, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, hình thức giải quyết tranh chấp…
Chấm dứt hợp đồng đại diện
– thời hạn mà các bên đã thỏa thuận chấm dứt
– nếu không có thỏa thuận thì thời hạn đại diện chấm dứt khi bên giao đại diện/bên đại diệnthông báo cho bên đại diện/bên giao đại diện về việc chấm dứt
– Nếu bên giao đại diện đơn phương chấm dứt hợp đồng thì bên đại diện có quyền yêu cầu bên giao đại diện trả 1 khoản thù lao do việc bên giao đại diện giao kết các hợp đồng với khách hàng mà bên đại diện đã giao dịch & những khoản thù lao mình đáng lẽ đươc hưởng. Nếu bên đại diện đơn phương chấm dứt HĐ thì bên đại diện bị mất quyền đó
II. Môi giới thương mại
1. Khái niệm & đặc điểm
a. khái niệm
Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới
b. đặc điểm
– bên môi giới phải là thương nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ môi giới (không nhất thiết có ngành nghề đăng ký kinh doanh trùng với ngành nghề kinh doanh của các bên được môi giới), bên được môi giới không nhất thiết là thương nhân
– quan hệ môi giới thương mại chỉ được hình thành khi bên được môi giới ký hợp đồng môi giới với bên môi giới
– bên môi giới sẽ nhân danh chính mình trong quan hệ với các bên được môi giới
– bên môi giới không tham gia trực tiếp ký hợp đồng với khách hàng mà chỉ làm công tác giới thiệu các bên được môi giới với nhau. Nếu bên được môi giới (bên đã ký hợp đồng với bên môi giới) ủy quyền thì bên môi giới được trực tiếp ký hợp đồng với khách hàng mà và trong trường hợp này bên môi giới có tư cách là bên đại diện.
– Nội dung của hợp đồng môi giới bao gồm những công việc tìm kiếm, cung cấp thông tin cần thiết về đối tác cho bên được môi giới thiệu hàng hóa, dịch vụ cần môi giới
– Môi giới thương mại là hoạt đồng kinh doanh thuần tùy, mục đích của bên môi giới là tìm kiếm lợi nhuận (thù lao) thù lao chỉ được trả khi các bên được môi giới ký hợp đồng với nhau
– Phạm vi môi giới: môi giới bất động sản, môi giới chứng khoán, môi giới bảo hiểm…
2. Hợp đồng môi giới
Chủ thể
– bên môi giới: phải là thương nhân
– bên được môi giới: không nhất thiết là thương nhân
Đối tượng: công việc môi giới nhằm chấp nối quan hệ giữa các bên được môi
giới với nhau
hình thức hợp đồng: LTM 2005 không có quy định
Nội dung HĐ: LTM 2005 không quy định nội dung cụ thể của HĐ môi giới nhưng để hạn chế tranh chấp các bên có thể thỏa thuận những điều khoản như thời hạn thực hịên hợp đồng môi giới, thù lao môi giới, quyền và nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh
III. Ủy thác mua bán hàng hóa
1. khái niệm: Uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác (Điều 155 LTM 2005)
2. Đặc điểm:
– bên nhận ủy thác phải là thương nhân
– bên ủy thác không nhất thiết là thương nhân
– bên nhận ủy thác phải kinh doanh hàng hóa phù hợp với hàng hóa được ủy thác
– bên nhận ủy thác có thể nhận ủy thác cho nhiều bên ủy thác khác nhau
– bên nhận ủy thác sẽ nhân danh chính mình trong quan hệ với bên thứ 3
3. Nội dung của hoạt động ủy thác
– thực hiện hợp đồng ủy thác giữa bên ủy thác & bên nhận ủy thác
– trực tiếp ký hợp đồng với bên thứ 3
– bên nhận ủy thác chỉ được bên ủy thác ủy quyền mua bán hàng hóa
4. Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
– là một hợp đồng dịch vụ
– đối tượng là công việc mua bán hàng hóa do bên nhận ủy thác tiến hành theo sự ủy quyền của bên ủy thác
– hình thức hợp đồng: bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương
IV. Đại lý thương mại
1. khái niệm & đặc điểm
a. khái niệm
Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao (Điều 166 LTM 2005)
b. đặc điểm
– quan hệ đại lý phát sinh giữa bên giao đại lý và bên đại lý
– bên giao đại lý là bên giao hàng hóa cho đại lý bán hoặc giao tiền cho đại lý mua
VD: Cty A kinh doanh Nệm giao sản phẩm cho B – đại lý của Cty A để B bán sản phẩm cho A
Cty A chuyên thu mua phế liệu số lượng lớn để cung cấp cho các doanh nghiệp khác tái chế lại thành sản phẩm chuyên dùng, cty A này giao tiền cho B – Đại lý của A để giúp A thu mua phế liệu ở 1 khu vực nhất định
– bên giao đại lý là bên ủy quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ
- bên đại lý là bên nhận hàng hóa để làm đại lý bán hoặc nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận ủy quyền cung ứng dịch vụ
- bên đại lý & bên giao đại lý phải là thương nhân
- nội dung của hoạt động đại lý bao gồm việc giao kết thực hiện hợp đồng đại lý giữa bên giao đại lý và bên đại lý; giao kết thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa bên đại lý với bên thứ 3 theo yêu cầu của bên giao đại lý
- quan hệ đại lý thương mại được xác định bằng hợp đồng
– bên đại lý nhân danh chính mình trong quan hệ với bên thứ 3 (khách hàng)
– bên đại lý trực tiếp thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ với bên thứ ba và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng với bên thứ ba ràng buộc bên đại lý với bên thứ ba
2. Các hình thức đại lý
v Đại lý bao tiêu: là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua bán trọn vẹn một khối lượng hàng hóa hoặc cung ứng đầy đủ 1 dịch vụ cho bên giao đại lý
- bên giao đại lý ấn định giá giao đại lý
- bên đại lý ấn định giá bán hàng hóa cho khách hàng
- bên đại lý sẽ hưởng thù lao là mức trên lệch giữa giá mua, giá bán thực tế so với giá mua giá bán do bên giao đại lý quy định
VD: Cty A cung cấp Nệm cho Đại lý B bán sản phẩm cho mình với giá giao nệm trong HĐ đại lý là 1.000.000/1 tấm (giá giao đại lý) Đại lý B khi bán cho khách hàng sẽ được quyền ấn định giá cho mỗi tấm nệm, chẳng hạn là 1200000/1 tấm (giá bán thực tế), như vậy Đại lý B sẽ hưởng được thù lao là 1200000-1000000=200000
v Đại lý độc quyền: là hình thức đại lý mà tại 1 khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý chỉ giao cho 1 đại lý mua/bán 1 hoặc 1 số mặt hàng nhất định
v Đại lý hoa hồng: là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc bán hàng hóa cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lý với những đặc điểm:
- bên giao đại lý sẽ ấn định giá giao đại lý và giá bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng
- bên đại lý sẽ được bên đại lý trả 1 khoản tiền thù lao dưới hình thức hoa hồng.
- Mức hoa hồng do 2 bên thỏa thuận (thỏa thuận trên giá mua bán hàng hóa thực tế
VD:Cty A cung cấp Nệm cho Đại lý B bán sản phẩm cho mình với giá giao nệm trong HĐ đại lý là 1.000.000/1 tấm (giá giao đại lý và giá bán hàng hóa cho khách hàng) và Đại lý B sẽ huongr được hoa hồng là 10% trên mỗi tấm nệm được bán ra như vậy Đại lý B sẽ hưởng được hoa hồng là 1000000×10%=100.000
v Tổng đại lý mua bán hàng hóa: là hình thức đại lý tổ chức 1 hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lý.
– Tổng đại lý là đối tác trực tiếp của bên giao đại lý
– tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc
– các đại lý trực thuộc hoạt động dưới sự lãnh đạo của tổng đại lý
3. Hợp đồng đại lý
Chủ thể
bên giao đại lý và bên đại lý đều là thương nhân
Đối tượng hợp đồng: công việc mua/ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ do bên đại lý thực hiện cho bên giao đại lý
Hình thức hợp đồng: Hợp đồng đại lý được giao kết giữa thương nhân giao đại lý và thương nhân làm đại lý, hợp đồng đại lý phải được giao kết bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương
Nội dung hợp đồng: Khi giao kết hợp đồng đại lý mua, bán hàng hoá, các bên có thể thoả htuận và ghi vào trong hợp đồng các điều khoản sau: Hàng hoá hoặc dịch vụ đại lý; Hình thức đại lý; thù lao đại lý; thời hạn của hợp đồng đại lý; quyền và nghĩa vụ của các bên
Không có nhận xét nào: