Ads Top

Pháp luật quốc tế về vấn đề quốc tịch



Thông thường đa phần dân cư sống trên lãnh thổ của một quốc gia, được pháp luật xác định một cách tự nhiên về những người có quốc tịch của nước sở tại mà không cần thiết phải có một quyết định nào của nhà nước. Trong xã hội mỗi cá nhân con người thường phải gắn với một nhà nước nhất định, phần còn lại được các cơ quan nhà nước quyết định, pháp luật các nước xác định quốc tịch bằng hai quy tắc cơ bản :


Quy tắc huyết thống : Theo quy tắc này mọi đứa trẻ khi sinh ra đều có quốc tịch của cha mẹ, không phụ thuộc vào lãnh thổ sinh ra, cũng như không phụ thuộc vào ý chí của cha mẹ, quốc tịch của đứa trẻ là quốc tịch tự nhiên. Đa phần các nước trên thế giới áp dụng quy tắc này, nhất là ở các nước châu Âu, tuy nhiên việc áp dụng vào thực tế cho thấy có những yếu điểm nhất định khi cha mẹ của đứa trẻ có quốc tịch khác nhau thì xác định quốc tịch đứa trẻ rất phức tạp.


Một số quốc gia quy định rằng, trẻ sinh ra có quốc tịch của cha, quy định này bị phê phán bởi nó mang tính chất áp đặt không tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ.


Để giải quyết mâu thuẫn trong trường hợp cha mẹ có quốc tịch khác nhau, một số quốc gia đã quy định rằng nếu có tranh chấp về quốc tịch của đứa trẻ thì do sự  thỏa thuận của cha mẹ, nhiều khi cha mẹ không thỏa thuận được thì Toà án giải quyết.


Quy tắc lãnh thổ : Theo quy tắc này, mọi đứa trẻ sinh ra trên lãnh thổ của nước nào thì có quốc tịch của nước đó, không phụ thuộc vào ý chí của cha mẹ chúng, cũng như không tính đến việc cha mẹ chúng mang quốc tịch của nước nào. Việc áp dụng quy tắc này vào thực tiễn cho thấy có những khiếm khuyết lớn, khi một đứa trẻ mà cha mẹ có quốc tịch của nước A nhưng do một điều kiện nào đó đứa trẻ sinh ra trên lãnh thổ của nước B, thì đương nhiên đứa trẻ đó mang quốc tịch của nước B, nếu như nước B áp dụng quy tắc vừa nêu. Đối với Cuba, để bổ sung cho quy tắc này, pháp luật quy định loại trừ những người nước ngoài công tác tại Cuba.


Nhìn chung, trong quy định của pháp luật quốc tịch đại đa số công dân của nước sở tại mang quốc tịch theo một trong hai quy tắc trên và không ít những nước áp dụng cả hai quy tắc đó, như vậy đa phần những công dân của nước sở tại mang quốc tịch một cách đương nhiên không cần có những quyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phần còn lại số ít dân cư muốn mang quốc tịch của nước sở tại phải có quyết định của cơ quan nhà nước thẩm quyền, của nguyên thủ quốc gia hoặc người đứng đầu cơ quan hành pháp theo quy định quốc tế về những trường hợp trên.


Điều kiện để xem xét quyết định nhập quốc tịch được các quốc gia quy định khác nhau, tùy theo yêu cầu của nước sở tại.


Ví dụ : người muốn nhập quốc tịch phải có thời gian cư trú thường xuyên ở đó như Mỹ 5 năm, Pháp 10 năm, phải biết tiếng, chữ viết của nước muốn nhập tịch hoặc điều kiện khác như phải biết lịch sử của nhà nước đó ( Mỹ), phải hiểu được nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước. Một số nước quy định phụ nữ lấy chồng phải theo quốc tịch của chồng như Mỹ, Pháp, Thuỵ Điển.


Việc xác định vấn đề quốc tịch liên quan đến vấn đề nhân đạo, nhiều khi việc đó vượt ra khỏi thẩm quyền của quốc gia sở tại. Vì vậy, để bảo vệ quyền con người nhiều nước phải ký kết hiệp ước vời nước ngoài, đồng thời Liên hiệp quốc đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế số lượng người không quốc tịch trên thế giới, năm 1961 Liên hiệp quốc có công ước nhằm hạn chế số lượng người không quốc tịch, Công ước ngày 27/01/1957 của Liên hiệp quốc về quốc tịch, đòi cho phụ nữ bình đẳng với nam giới trong vấn đề quốc tịch, tức là họ được giữ quốc tịch của mình khi lấy chồng người nước ngoài.


Hai quy tắc trên, dù ít hay nhiều đều có khiếm khuyết, không thể thâu tóm tất cả các trường hợp được, nếu như một quốc gia chỉ áp dụng quy tắc này mà không áp dụng quy tắc kia và ngược lại thì dẫn đến tại một thời điểm một cá nhân con người lại mang nhiều quốc tịch, bởi nguyên do có sự xung đột pháp luật về quốc tịch, nhất là về việc hưởng quốc tịch và mất quốc tịch; cũng có khi một người chuyển từ quốc tịch này sang quốc tịch khác nhưng không hoặc chưa chấm dứt quốc tịch cũ của mình; do kết hôn với người nước ngoài hoặc làm con nuôi; luật pháp các nước cho phép công dân mang hai quốc tịch ( Pháp, Brazin,..).


Song song với việc nhiều người cùng một lúc mang nhiều quốc tịch, thì những quy định của hai quy tắc trên đã dẫn đến hậu quả pháp lý tại một thời điểm nào đó, một cá nhân con người không mang một quốc tịch nào nguyên do thôi quốc tịch cũ nhưng chưa nhập được quốc tịch mới; do có sự xung đột của pháp luật về quốc tịch, khi đứa trẻ sinh ra trên lãnh thổ của quốc gia áp dụng quy tắc huyết thống mà cha mẹ không có quốc tịch hoặc có hai quốc tịch.

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.