Pháp luật cạnh tranh của Hoa Kỳ
1 . Mô hình Cấu trúc – Hành vi – Kết quả (S-C-R) và Trường phái Havard
Mô hình S-C-P là việc cấu trúc của thị trường quyết định hành vi của công ty và rằng hành vi quyết định kết quả trên thị trường, ví dụ như lợi nhuận, hiệu quả, tiến bộ về kỹ thuật và tăng trưởng. Mô hình đó đã tìm cách lập luận rằng cấu trúc ngành nhất định dẫn tới những dạng hành vi nhất định, mà sau đó lại dẫn tới những kiểu kết quả nhất định. Đặc biệt, nhiều ngành bị tập trung cao tạo ra những hành vi dẫn đến kết quả kinh tế nghèo nàn, đặc biệt là làm giảm sản lượng và hình thành giá cả độc quyền. Những quan điểm này bắt nguồn chủ yếu từ công trình được nghiên cứu tại Đại học Havard. Công việc ban đầu được thực hiện bởi E.S. Mason(See E.S.Mason, Economic Concentration and the Monopoly Problem (Havard University Press, 1957).) vào năm 1930, được phát triển bởi học sinh của ông là J.S.Bain vào những năm 1950. Lý thuyết đã được phát triển thông qua các nghiên cứu mang tính kinh nghiệm về các ngành công nghiệp của Hoa Kỳ (20 ngành sản xuất đã được nghiên cứu vào đầu những năm 1950) hơn là từ những mô hình mang tính lý thuyết. Kết luận rằng cấu trúc thị trường quyết định kết quả tạo ra một niềm tin rằng chống độc quyền nên liên quan đến các biện pháp điều chỉnh về mặt cơ cấu hơn là các biện pháp điều chỉnh mang tính hành vi. Do đó, bằng việc tập trung nghiên cứu các ngành bị tập trung. Bain đã cho rằng hầu hết các ngành công nghiệp bị tập trung hơn mức cần thiết (tính kinh tế nhờ quy mô không phải là cơ bản, thiết yếu ở hầu hết các ngành); rằng rào cản gia nhập có nhiều và rất cao làm cho các công ty mới bị ngăn cản gia nhập thị trường; việc đặt giá độc quyền gắn với các ngành độc quyền nhóm bắt đầu xảy ra ở mức tập trung tương đối thấp.
Những kết luận có tầm ảnh hưởng này trùng với một xu hướng chung của chính sách của Quốc hội Hoa Kỳ trong việc tìm cách bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ và e ngại việc bành trướng kinh doanh. Điều này đã dẫn đến việc ra đời các chính sách thực thi Luật chống độc quyền theo hướng can thiệp mạnh mẽ trong những năm 1960. Trường phái Chicago đã chỉ trích những phân tích của trường phái Bain, với lập luận rằng các kết luận rút ra từ những nghiên cứu mang tính kinh nghiệm là thiếu sót; đã sai khi thấy các rào cản gia nhập có mặt ở khắp nơi, khi thấy tính kinh tế nhờ quy mô không xuất hiện nhiều ở các ngành. Việc lên án rất nhiều hành vi kinh doanh được coi là hạn chế cạnh tranh là nhận thức sai lầm. Tuy nhiên, bất chấp sự thắng thế của trường phái Chicago, mô hình S-C-P vẫn là một công cụ cơ bản của phân tích chống độc quyền. Mặc dù các nhà kinh tế chủ đạo không còn tin rằng cấu trúc thị trường quyết định kết quả nhưng họ cũng chấp nhận rằng cấu trúc thị trường là quan trọng đối với khả năng của công ty hành xử mang tính hạn chế cạnh tranh. Theo học giả Hovenkamp “Chống độc quyền mà không có phân tích cấu trúc, không nhờ chủ yếu vào các tác giả của mô hình S-C-P, sẽ là không khả thi”.(H. Hovenkamp, Federal Antitrust Policy: The Law of competition and its Practice (2nd edn., West Publishing Co, 1999), tr 45.)
2 . Trường phái Chicago
“Chicago” là một trường phái của những nhà kinh tế học tại Đại học Chicago ủng hộ thị trường tự do và kinh tế tiền tệ. Không giống như trường phái Havard, nền tảng của các phân tích chống độc quyền lại dựa chủ yếu trên cơ sở lý thuyết chứ không phải là những nghiên cứu mang tính kinh nghiệm. Thậm chí ngay sau khi mô hình S-C-P đã được thiết lập, trở thành nhận thức thống trị, vẫn bị các học giả chống độc quyền của Chicago lớn tiếng chỉ trích. Mặc dù mô hình S-C-P chưa bao giờ bị át hẳn, các nhà kinh tế theo trường phái Chicago đã làm ra một cuộc cách mạng trong tư duy về chống độc quyền. Mặc dù, đến lượt mình, nó lại bị chỉ trích và một số trong các khẩu hiệu giá trị nhất của nó thấy rằng không thể tiếp tục đứng vững cùng với các phân tích của mình, ảnh hưởng của trường phái này đến Luật Cạnh tranh vẫn còn lại. Ở Hoa Kỳ, uy lực của trường phái Chicago trong suốt những năm 1970 và 1980 đã dẫn đến một thay đổi trong định hướng áp dụng Luật chống độc quyền và thực sự đã hậu thuẫn cho chính sách kinh tế của chính quyền Reagan.
Theo quan điểm cơ bản của trường phái Chicago, việc theo đuổi hiệu quả, tức là hiệu quả về mặt phân bổ bởi thị trường, nên là mục tiêu duy nhất của luật chống độc quyền. Trường phái này không ủng hộ tính cảm tính đối với các công ty nhỏ, các cửa hàng nhỏ mà đặt trọn niềm tin vào thị trường. Sự giống nhau của người chiến thắng hay người thua cuộc là không phù hợp cho đến khi đạt được hiệu quả. Trường phái này cho rằng chỉ có ít rào cản gia nhập tồn tại, rằng các ngành công nghiệp thường hưởng lợi từ tính kinh tế nhờ quy mô và các doanh nghiệp đều là những người tối đa hóa lợi nhuận. Trường phái Chicago đặt nhiều niềm tin vào khả năng của thị trường có thể sửa chữa và đạt được tính hiệu quả mà không cần có sự can thiệp từ Chính phủ hay Luật chống độc quyền.
3 . Hậu Chicago
Không thể phủ nhận là trường phái Chicago đã thay đổi tư duy về pháp Luật chống độc quyền một cách sâu sắc, đã đặt các phân tích kinh tế ở vị trí trung tâm của luật chống độc quyền. Sau khi trường phái Chicago ra đời, mô hình S-C-P được bổ sung những tiêu chí đánh giá, hoặc được bổ sung về hiệu quả như là mối quan tâm chủ yếu. Trường phái Chicago đã đem đến ánh sáng mới trong việc tiếp cận nhiều vấn đề.
Tuy nhiên, gần đây một số ý tưởng của trường phái Chicago cực đoan đã được củng cố. Lý thuyết về tổ chức công nghiệp hiện đại hay kinh tế học công nghiệp mới nhấn mạnh tác động của hành vi chiến lược của công ty trong những tình huống thị trường khác nhau. Lý thuyết này cho rằng các công ty có thể tự cho phép mình ngăn cản sự gia nhập thị trường chiến lược. Quan điểm của những người theo Trường phái Chicago về hành vi đặt giá cướp đoạt là hành vi lý trí hiếm hoi, có thể được chấp nhận như là một chiến lược để ngăn cản các đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường. Quan điểm của trường phái Chicago đã được chấp nhận rộng rãi không phải đối với tất cả mọi lĩnh vực, ví dụ việc các thỏa thuận dọc không có tính hạn chế cạnh tranh nếu như không có sức mạnh thị trường đáng kể. Quan điểm của Bork về phân phối chọn lọc có thể được chấp nhận, nhưng không thể chia sẻ niềm tin rằng cái tốt cho doanh nghiệp lớn nhất thiết là tốt cho xã hội.
Không có nhận xét nào: