Ads Top

Phân tích những điều khoản chủ yếu của hợp đồng



Nội dung của hợp đồng kinh tế là toàn bộ những điều khoản mà hai bên đã thoả thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của hai bên. Những điều khoản trong nội dung hợp đồng có thể chia ra làm ba loại:Điều khoản chủ yếu,điều khoản thường lệ,điều khoản tuỳ nghi.


Điều khoản chủ yếu là những điều khoản bắt buộc các bên phải thoả thuận và ghi vào văn bản hợp đồng.Nếu không  ghi vào hợp đồng thì hợp đồng không có giá trị .


Nội dung hợp đồng ở trên  có 11 điều khoản và các điều khoản quy định tại các a,b,c,d, khoản 1, điều này làđiều khoản chủ yếu của các hợp đồng kinh tế .Các điều khoản khác liên quan trực tiếp đến đặc điểm của từng loại của từng loại hợp đồng kinh tế cũng làđiều khoản chủ yếu của loại hợp đồng kinh tếđó  (theo điều 12)


Những điều khoản chủ yếu mà cần phải có trong hợp đồng là


Điều khoản một: Ngày, tháng, năm ký hợp đồng kinh tế, địa chỉ, số tài khoản và ngân hàng giao dịch của các bên họ, tên, người đại diện, người đứng tên đăng ký kinh doanh .


Người ký hợp đồng kinh tế phải làđại diện hợp pháp của pháp nhân của người  đứng tên đăng ký kinh doanh


Đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc  người đăng ký kinh doanh có thể uỷ quyền bằng văn bản cho người khác thay mình ký hợp đồng kinh tế .Người được uỷ quyền chỉđược ký hợp đồng kinh tế trong phạm vi được uỷ quyền và không được uỷ quyền lại cho người thứ ba .


Hợp đồng kinh tếđược ký kết bằng văn bản, tài liệu giao dịch, công văn điện báo, đơn chào hàng đơn đặt hàng .Hợp đồng kinh tếđược coi là hình thành  và có hiệu lực pháp lý từ thời điểm các bên đã  ký vào  văn bản hoặc từ khi các bên nhận được tài liệu giao dịch thực hiện sự thoả thuận về tất cả những điều khoản chủ yếu của hợp đồng trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với hợp đồng kinh tế


Điều khoản hai:  Đối tượng của hợp đồng kinh tế tính bằng số lượng , khối lượng hoặc giá trị quy ước đã thoả thuận.Trong đó :


– Đối tượng của hợp đồng làđiều khoản về tên hàng.


– Điều khoản về số lượng xác định bằng các đơn vị tính số lượng, trọng  lượng, khối lượng, chiều dài diện tích.


Điều khoản ba: Chất lượng chủng loại quy cách, tính đồng bộ của sản phẩm, hàng hoá hoặc yêu cầu kỹ thuật .


Chất lượng hàng được ghi trong hợp đồng là tăng các đặc tính các quy cách, tác dụng hiệu suất… Nói lên mặt “chất” của hàng nghĩa là xác định các tính chất hữu ích bên trong và hình thái bên ngoài của hàng hoá bao gồm các thuộc tính tự nhiên và ngoại hình của hàng đó trong hợp đồng mua bán chất lượng là  cơ sởđể hai bên mua bán, đàm phán về giao nhận hàng và quyết định mức giá cả của hàng. Nếu chất lượng không phù hợp với thoả thuận, bên mua có quyền đòi bồi thường thiệt hại sửa chữa thay thế hàng đến  mức có thể từ chối nhận hàng và huỷ bỏ hợp đồng.


-Dùng thuyết minh mô tảđể xác định chất lượng. Theo quy cách mô tảđể mua bán hàng, dựa vào đẳng cấp, đối với nông sản phẩm phụ khó quy định được tiêu chuẩn thống nhất do đó thường dùng “ chất lượng bình quân tốt”, chất lượng dựa vào sách giới thiệu và hình ảnh mẫu, dựa trên nhãn hiệu hàng hoá , dựa trên tên của nơi sản xuất để biểu thị chất lượng


Điều khoản bốn:


Giá cả là một điều khoản đặc biệt quan trọng, làđiều khoản trung tâm của hợp đồng. Các bên mua bán đều tranh thủđặt giá cả có lợi cho phía mình


– Giá tính theo đơn vị hàng: trọng lượng, chiều dài, bề mặt, khối lượng, chiếc, hay tính theo tá hoặc hàng trăm đơn vị . Nếu hàng giao gồm nhiều loại chất lượng khác nhau thì giá một đơn vị hàng tính theo từng loại từng mác


Khi giao hàng có phẩm chất , chủng loại khac nhau , giáđược quy định cho từng loại mặt hàng , từng loại phẩm chất vá từng loại mác khác nhau . khi giao hàng thiết bị toàn bộ giá thường dược định theo giá trị của từng chuyến giao hàng hoặc từng bộ phận máy đãđược nêu rõ trong bản phụ lục kèm theo hợp đồng. Nếu giá tính theo trọng lượng , phải quy định rõ: trọng lượng cả bì, trọng lượng tịnh hay trọng lượng cả bì coi như tịnh, hoặc phải thoả thuận rõ xem giá bao bì cóđược tính trong hàng hày không. Những quy định này cũng cần phải nêu rõ khi tính giá chiếc.


– Phương pháp định giá: Tuỳ theo thoả thuận trong hợp đồng , giá có thể là một trong các loại sau giá cốđịnh , giá cốđịnh sau và giá trượt


+ Giá cốđịnh là giáđược quy định lúc ký kết hợp đồng và không thay đổi cả quá trình thực hiện hợp đồng . Giá cốđịnh dùng trong các hợp đồng giao hàng ngay hay giao ngay trong thời gian ngắn , có lúc giao hàng trong thời hạn dài cũng dùng giá cốđịnh , thường hay quy ước trong hợp đồng là “ giá cốđịnh , không thay đổi”


+ Giá cốđịnh sau được xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng . Trong hợp đồng định thời điểm tính giá và nguyên tắc định giá


+ Giáđịnh lại là giáđãđược xác định trong hợp đồng lúc ký kết , nhưng trong hợp đồng có quy ước : nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng giá thị trường tăng hay giảm , giáđã ghi trong hợp đồng sẽ thay đổi theo quy ước tăng giảm giá .Trong hợp đồng thường quy định nguồn tài liệu đểđịnh giá , giáđịnh lại thường dùng cho hàng nguyên liêụ công nghiệp thực phẩm gia vị mua dài hạn


+ Giá di động là giáđược tính dứt khoát lúc thực hiện hợp đồng bằng cách điều chỉnh giá cơ sởđã ghi trong hợp đồng có tính đến thay đổi về chi phí sản xuất trong quá trình chuẩn bị hàng .


+ Những sản phẩm hàng hoá thuộc danh mục nhà nước quy định giá, nhưng chưa có thẩm quyền quyết định cụ thể thì giá trong hợp đồng là gía tạm tính do hai bên thoả thuận . Khi có giá chính thức các bên ký kết hợp đồng phải  ghi lại giias trong hợp đồng và thanh toán theo giá chính thức. Nếu hợp đồng kinh tếđã hết hiệu lực mà chưa có giá chính thức thì các bên ký hợp đồng được phép thanh toán theo giáđề nghị trong phương án giáđã trình xét duyệt .

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.