Ads Top

Đối tượng điều chỉnh của luật thương mại – hành vi thương mại



1. Khái niệm


 Luật thương mại 2005 không xây dựng khái niệm hành vi thương mại mà xây dựng khái niệm hoạt động thương mại


Một công ty chuyên mua bán hàng hóa nhưng trong hoạt động mua bán đó cty sẽ thực hiện nhiều hành vi khác nhau. Chẳng hạn hành vi bán sản phẩm, hành vi mua nguyên liệu để sản xuất sản phẩm…Có thể nói hoạt động thương mại theo định nghĩa của LTM 2005 là tổng hợp nhiều hành vi thương mại


Để xác định đối tượng chịu sự điều chỉnh của luật thương mại chúng ta sẽ tìm hiểu về từng loại hành vi thương mại


2. Đặc điểm


*   Hành vi thương mại là hành vi do thương nhân thực hiện


Một hành vi được gọi là hành vi thương mại trước tiên hành vi đó phải được thực hiện bởi thương nhân. Hành vi không được thực hiện bởi thương nhân chúng ta gọi là hành vi dân sự


   VD:


Ông A là chủ DNTN A, chuyên kinh doanh vật liệu xây dựng. khi ông A thực hiện hành vi bán VLXD cho khách hàng thì hành vi của ông A sẽ được hiểu là hành vi thương mại và ông A thực hiện hành vi đó với tư cách là 1 thương nhân. Nhưng nếu ông A đến cửa hàng Hồng phúc mua 1 chiếc xe Airblade về để phục vụ nhu cầu đi lại thì hành vi mua xe là hành vi dân sự và tư cách của ông ta trong trường hợp này không phải là một thương nhân.


Vậy nếu nói mọi hoạt động của thương nhân là hoạt động thương mại là đúng hay sai?Sai, vì cùng 1 chủ thể nhưng khi thực hiện hành vi này(hành vi thương mại) chủ thể là thương nhân nhưng khi thực hiện 1 hành vi khác (hành vi dân sự) thì chủ thể không phải là thương nhân


*   Hành vi thương mại là hành vi nhằm mục đích sinh lợi


Hiểu như thế nào là mục đích sinh lợi?


VD: Bạn A đến Hồng Phúc mua một chiếc Airblade


– Hành vi ct Hồng phúc bán xe cho chúng ta dể hưởng lợi là hành vi thương mại


– Chúng ta mua xe để sử dụng là hành vi dân sự vì chúng ta mua xe với mục đích tiêu dùng chứ không phải mục đích lợi nhuận


Hành vi thương mại được thực hiện trên thị trường


Thị trường là nơi là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán và là nơi diễn ra các hoạt động thương mại.


3.Các loại hành vi thương mại


v   Hành vi thương mại thuần túy: là những hành vi có tính chất thương mại thể hiện một cách rõ ràng, dễ nhận thấy


VD: Cty Việt tiến ký hợp đồng bán áo sơ mi cho Cty A


v   Hành vi thương mại gắn liền với thương nhân (hành vi thương mại phụ thuộc):là những hành vi có bản chất dân sự nhưng do thương nhân thực hiện theo nhu cầu nghề nghiệp hay nhân lúc hành nghề


VD: mua bàn ghế, văn phòng phẩm để phục vụ cho hoạt động kinh doanh


Giao dịch hổn hợp:là những giao dịch mang tính thương mại đối với một bên và mang tính dân sự đối với bên kia


VD: Cty Việt tiến ký hợp đồng cung cấp trang phục cho Khoa luật (để tặng cho giáo viên của khoa nhân ngày 20-11)


– Cty Việt tiến là 1 thương nhân, hành vi cung cấp trang phục là hành vi thương mại thuần túy


– Khoa Luật là một đơn vị thuộc trường ĐHCT, không có tư cách thương nhân, hành vi mua trang phục chỉ nhằm mục đích phục vụ nhu cầu của khoa, không có mục đích sinh lời nên không phải là hành vi thương mại mà đó là hành vi dân sự.


Khi giao dịch này xảy ra tranh chấp thì theo  khoản 3 điều 1 – Luật thương mại 2005, bên chủ thể thực hiện hành vi không nhằm mục đích sinh lời (trong trường hợp này là khoa luật) sẽ được quyền ưu tiên chọn Luật áp dụng giải quyết. Nếu khoa Luật chon Luật thương mại 2005 giải quyết thì các quy định của Luật này sẽ được áp dụng.


4. Nguồn của luật thương mại


 Nguồn của Luật thương mại là hình thức chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thương mại.


Chúng ta có các nguồn như:


Bộ Luật Dân Sự, Luật thương mại, Luật chuyên ngành (luật các tổ chức tín dụng, Luật chứng khoán, luật bảo hiểm..)


Tập quán thương mại

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.