Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật của NLĐ:
Trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật là trường hợp NLĐ chấm dứt HĐLĐ không đúng theo các căn cứ luật định hoặc vi phạm thời hạn báo trước. (căn cứ vào các quy định của pháp luật và tuỳ thuộc vào hình thức của hợp đồng lao động).
2. Hậu quả pháp lí đối với NLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật:
– Thứ nhất, trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì không được trợ cấp thôi việc. NLĐ phải bồi thường cho NSDLĐ nửa tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).[1]
– Thứ hai, nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, NLĐ phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương của NLĐ trong những ngày không báo trước.[2] (tính bằng số ngày vi phạm nhân với số tiền lương ngày)
– Thứ ba, “phải bồi thường chi phí đào tạo theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Bộ luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề, trừ trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động mà thực hiện đúng và đủ các quy định tại Điều 37 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung”[3]. Và phải “…thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên;…”[4]
Trừ trường hợp lao động nữ chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Điều 112 BLLĐ thì không phải bồi thường theo quy định tại Điều 41 BLLĐ.
[1] Khoản 2 Điều 41 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007)
[2] Khoản 4 Điều 41 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007)
[3] Điều 13 Nghị định 44/2003/NĐ – CP ngày 9/5/2003 hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về HĐLĐ.
[4] Đoạn 1 Điều 43 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007)
Không có nhận xét nào: