Một số kiến nghị về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài thông qua việc tìm hiểu tại sở tư pháp Tp.HCM
Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện quản lý Nhà nước trên địa bàn thành phố về: Công tác xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; công chứng, chứng thực; hộ tịch; kết hôn có yếu tố nước ngoài; nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; lý lịch tư pháp; luật sư; tư vấn pháp luật… và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực công tác tư pháp theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố và Bộ Tư pháp. Theo đó, Sở Tư pháp có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân thành phố quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố; tiến hành trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn, ghi chú kết hôn có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002, Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 22/06/2006.
1. Đánh giá pháp luật Việt Nam về các quy định trong lĩnh vực quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Nói về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, có thể nói rằng pháp luật Việt Nam đã thể hiện chính sách của Nhà nước trong việc tôn trọng quan hệ kết hôn tự nguyện, tiến bộ, tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam. Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế sâu rộng, pháp luật về quan hệ hôn nhân và gia đình đã tạo khung pháp lý quan trọng để ghi nhận, bảo hộ các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau trên lãnh thổ Việt Nam. Nhưng bên cạnh những ưu điểm thì pháp luật Việt Nam vẫn còn tồn tại những hạn chế:
1.1 Pháp luật về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài chưa đầy đủ.
– Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Nghị định 69/2006/NĐ-CP đã có quy định việc đăng ký kết hôn với người nước ngoài bị từ chối nếu kết hôn không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật hiện nay chưa có quy định cụ thể như thế nào là “thuần phong mỹ tục” và trường hợp nào là “kết hôn không phù hợp với thuần phong mỹ tục” nên cũng gây nhiều khó khăn trong việc xác định hồ sơ đăng ký kết hôn có phù hợp với thuần phong mỹ tục hay không. Thực tế tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài cho thấy nhiều trường hợp giữa vợ và chồng có sự chênh lệch tuổi lớn…
Ví dụ như Điều 9, Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không quy định việc kết hôn chênh lệch tuổi thuộc trường hợp không đủ điều kiện kết hôn hay cấm kết hôn. Việc xác định kết hôn chênh lệch tuổi có phù hợp thuần phong mỹ tục hay không cũng rất khó khăn vì chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể (không thể có quan hệ hôn nhân khi độ tuổi chênh lệch quá lớn, ví dụ người đàn ông 80 tuổi không thể kết hôn với cô gái 18 tuổi).
– Các quy định về điều kiện kết hôn trong Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam chưa có nhiều quy định riêng về các điều kiện kết hôn với người nước ngoài.
– Pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có quy định về thủ tục phỏng vấn kết hôn để kiểm tra, làm rõ về sự tự nguyện kết hôn của họ, về khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của nhau nhưng không quy định hậu quả pháp lý của việc này. Ví dụ: nếu qua phỏng vấn 2 bên không giao tiếp được bằng ngôn ngữ chung thì sao, không hiểu biết về hoàn cảnh của nhau thì cơ quan phỏng vấn xử lý như thế nào…?
– Người dân chưa có điều kiện nắm rõ Luật để biết cách làm khi muốn đăng ký kết hôn, pháp luật chưa có quy định hướng dẫn hoạt động của các trung tâm môi giới, tư vấn hôn nhân. Khi họ đến Sở Tư pháp để làm hồ sơ giấy tờ thì có nhiều trường hợp chưa được tư vấn cụ thể về pháp lý, thủ tục; và khi họ nộp hồ sơ thì người nhận hồ sơ sẽ tốn nhiều thời gian để giải thích cho người dân, mà không phải cán bộ nào cũng giải thích được.
– Từ năm 2005 đến năm 2010, số lượng ghi chú kết hôn năm sau tăng cao so với năm trước, đa số là phụ nữ Việt Nam đăng ký kết hôn với đàn ông Hàn Quốc ở Hàn Quốc rồi trở về Việt Nam ghi chú kết hôn. Nguyên nhân của tình hình này do quy định trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc khá dễ dàng, người vợ hoặc người chồng có thể vắng mặt tại buổi đăng ký kết hôn, chỉ cần nộp giấy xác định tình trạng hôn nhân, bản sao hộ khẩu là đủ thủ tục đăng ký kết hôn.
– Luật Cư trú có hiệu lực từ ngày 1/7/2007 mở ra điều kiện thoáng hơn cho người dân về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú tại các đô thị lớn nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Tận dụng điều kiện có được thường trú và tạm trú tại thành phố, rất nhiều trường hợp đăng ký thường trú hoặc tạm trú tại đây, rất nhiều trường hợp đăng ký chỉ nhằm mục đích làm thủ tục đăng ký kết hôn hay ghi chú kết hôn mà thành phố khó có thể từ chối.
– Pháp luật chưa có quy định việc bảo hộ cho công dân Việt Nam là phụ nữ Việt Nam sau khi kết hôn sang định cư ở Trung Quốc (Đài Loan), Hàn Quốc nên việc giúp đỡ các cô dâu Việt Nam khi gặp hoàn cảnh khó khăn còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân: trình độ thấp, không có thông tin về các cơ quan ngoại giao…
1.2 Pháp luật về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài có những điểm chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống, khó khăn trong việc áp dụng.
– Các quy định trong luật chưa hẳn được vận dụng tốt vào thực tế, và vẫn còn thiếu quy định cho một vài trường hợp: ví dụ như trong quá trình làm thủ tục phỏng vẫn đối với 2 người xin đăng ký kết hôn, cán bộ tư pháp nhận thấy rằng hai bên bất đồng ngôn ngữ, chưa hiểu gì về người kia cũng như cuộc sống của họ ở nước ngoài, có khi ngày đăng ký là lần đầu họ gặp nhau (như trường hợp mai mối vì mục đích kinh tế, đường dây mua bán…) nhưng cán bộ tư pháp không có căn cứ pháp lý cũng như không có thẩm quyền để không cho họ kết hôn, chỉ có thể khuyên các bên nên dành một khoảng thời gian để tìm hiểu nhau kỹ hơn. Và trường hợp kết hôn mà chú rể hơn cô dâu quá nhiều tuổi (có khi chú rể bằng tuổi ông của cô dâu), không tự nguyện, hai bên trục lợi… thì họ vạch ra kịch bản sẵn, trả lời các câu hỏi phỏng vấn của cán bộ rất suôn sẻ và không có vi phạm điều cấm; cho dù người phỏng vấn cũng không thể không cho kết hôn.
– Trước thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài diễn biến phức tạp, những năm gần đây, Chính phủ đã chỉ đạo chấn chỉnh công tác quản lý và đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài.
– Sau khi nghị định 69/2006 quy định về thủ tục phỏng vấn khi đăng ký kết hôn là bắt buộc, Sở Tư pháp đã thành lập đội ngũ cán bộ phỏng vấn tại bộ phận “một cửa”, nơi người xin đăng ký kết hôn đến nộp hồ sơ. Ngành công an cũng kết hợp với Sở Tư pháp để thực hiện biện pháp xác minh để làm rõ các trường hợp kết hôn có nghi vấn. Công tác xác minh, phỏng vấn đã giúp cho việc giải quyết đúng pháp luật, loại trừ các trường hợp kết hôn giả tạo thông qua môi giới bất hợp pháp hoặc kết hôn nhằm mục đích khác.
– Các Trung tâm Hỗ trợ kết hôn hoạt động chưa hiệu quả, có nơi chỉ làm việc qua loa, chưa góp phần bảo đảm việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài đúng pháp luật và lành mạnh, đôi khi tạo điều kiện cho các đường dây môi giới bất hợp pháp trục lợi.
– Pháp luật chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng kết hôn giả tạo nhằm mục đích khác. Biết rõ ràng đó là gian dối nhưng người xin đăng ký kết hôn làm các thủ tục được yêu cầu quá suôn sẻ nên cán bộ không biết dựa vào đâu để không cho họ kết hôn.
– Quy định về công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài về việc ly hôn của công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004 còn khó khăn trong việc áp dụng.
1.3 Hệ thống pháp luật còn thiếu những thỏa thuận hợp tác, Hiệp định tương trợ tư pháp với các nước để tạo điều kiện cho việc bảo hộ công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và sau đó là sinh sống tại nước ngoài.
Để giải quyết những vấn đề xung đột pháp luật và bảo vệ quyền lợi cho công dân nước mình sinh sống ở nước khác, việc các nước ký kết các thỏa thuận hợp tác, các Hiệp định tương trợ tư pháp về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là biện pháp hữu hiệu. Tuy nhiên, tại Việt Nam việc nghiên cứu, đề xuất việc đàm phán, ký kết thỏa thuận với các nước khác để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và đang sinh sống ở nước ngoài trên các phương diện quốc tịch, cư trú, hôn nhân và gia đình, tài sản… phù hợp với pháp luật của Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế còn chậm.
Thực tế cũng cho thấy do chưa có văn bản hợp tác để có giải pháp cho những vấn đề xung đột pháp luật nên trong quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với công dân ở một số nước, vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Đài Loan đã nảy sinh tình trạng lách luật trong việc đăng ký kết hôn, quyền lợi của công dân Việt Nam sinh sống ở nước ngoài chưa được bảo hộ đúng mức. Chẳng hạn, pháp luật Hàn Quốc chấp nhận việc đăng ký kết hôn vắng mặt, trong khi đó pháp luật Việt Nam yêu cầu hai bên nam nữ phải có mặt khi làm thủ tục đăng ký kết hôn.
Một số điểm bất cập nói trên đặt ra yêu cầu nghiên cứu tổng thể và kỹ càng hơn quy định pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để bảo vệ những cuộc hôn nhân tự nguyện tiến bộ, ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật và bảo vệ hữu hiệu quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam sinh sống ở nước ngoài. Hiện nay Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị định 69/2006/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều hạn chế, không theo kịp diễn biến thực tế của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Điều địa phương trông chờ hiện nay là các Bộ, ngành nhanh chóng tham mưu cho Chính Phủ sửa đổi 2 văn bản quan trọng nói trên và có chỉ đạo kịp thời để chấn chỉnh quản lý công tác này trong thời gian tới.
2. Đánh giá về thủ tục hành chính
Cải cách thủ tục hành chính với bước đột phá là cơ chế “một cửa” đã bước qua giai đoạn thí điểm, tiến đến nhân rộng và áp dụng phổ biến trong các cơ quan hành chính Nhà nước.
Khi đến đăng ký kết hôn, người dân cần sự hướng dẫn, giải thích cụ thể của người có chuyên môn, người nắm vững về quy trình, thủ tục về lĩnh vực mà họ có yêu cầu về hồ sơ giấy tờ nhưng khi cơ chế “một cửa” ra đời thì mục đích của cơ quan Nhà nước là tránh liên hệ trực tiếp giữa người dân và cán bộ giải quyết vụ việc để tránh nảy sinh tiêu cực, nhiều can bộ mới vào nghề chưa thể nắm bắt hết được, dân tới cần nhiều thời gian để hỏi các cán bộ ở phòng chuyên môn.
Khi người dân liên hệ làm hồ sơ hay xin cấp giấy tờ thì thủ tục giải quyết vẫn còn rất lâu, dẫn tới việc “cò” bên ngoài các cơ quan Nhà nước tiếp cận người dân và trục lợi. Sự cả tin của người dân, muốn được giải quyết nhanh chóng và vấn đề giải quyết hồ sơ của cơ quan Nhà nước đã khiến họ bị dụ dỗ.
Quy định bất cập của pháp luật đã làm cho việc giải quyết việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tốn nhiều thời gian, công sức hơn, khó khăn hơn.
Như vậy, quan điểm của Nhà nước trong lĩnh vực kết hôn có yếu tố nước ngoài không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa con người với con người trong hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài mà còn là sự kết nối giữa hai dân tộc, hai quốc gia có ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến an ninh – chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại của đất nước; đồng thời, đó còn là sự giao lưu, tiếp biến văn hóa Việt Nam và các quốc gia khác; cần phải giữ gìn phát huy văn hóa đặc sắc, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và trên hết là tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch, cụ thể nhằm mục đích bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót khi ban hành pháp luật, vì pháp luật không thể theo kịp thực tế trong mọi trường hợp. Do đó, các cơ quan có thẩm quyền cần có sự nghiên cứu, bổ sung những điểm mới.
3. Một số kiến nghị
Cần phải nhìn nhận rằng, hôn nhân có yếu tố nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Và việc khắc phục những tồn tại hiện nay trong tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài là một đòi hỏi cấp bách. Bởi lẽ, đây là vấn đề liên quan chặt chẽ đến xã hội, đến con người cụ thể. Trong khi đó thực trạng xã hội hiện nay ảnh hưởng đến sự ổn định của xã hội, làm phát sinh nhiều điều tiêu cực ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân và gia đình của mỗi cá nhân. Do đó, em xin đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần để hoạt động kết hôn có yếu tố nước ngoài được thực hiện tốt hơn, giảm thiểu những rủi ro cho những phụ nữ kết hôn với người nước ngoài.
3.1 Áp dụng khoa học kỹ thuật
– Áp dụng các quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Tư pháp trên các phương tiện thông tin – trang web của Sở Tư pháp về việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để người dân có thể biết rõ để thực hiện tốt. Hiện nay, chỉ có Sở Tư pháp là cơ quan đầu tiên áp dụng quản lý hộ tịch bằng web, bao gồm nhiều vấn đề: kết hôn có yếu tố nước ngoài, lý lịch tư pháp, khai sinh, nhận cha mẹ con… Tất cả các khâu từ đăng ký hồ sơ cho đến khâu cuối cùng là hoàn thành và lưu hồ sơ đều được xử lý qua hệ thống máy tính có nối mạng của Sở. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã góp phần tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc của người dân và của các cơ quan có thẩm quyền. Đây là một ưu điểm cần được phát huy rộng rãi trong hệ thống các cơ quan Nhà nước, và cần phổ biến rộng rãi để người dân biết và thực hiện đúng pháp luật.
3.2 Cải cách pháp luật và cải cách hành chính
– Trước hết, phải hoàn thiện pháp luật về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Cụ thể là phải sửa đổi, thay thế Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Nghị định 69/2006/NĐ-CP theo hướng thông thoáng, cụ thể, dễ thực hiện trong cuộc sống và phù hợp thông lệ quốc tế, khắc phục những điểm chưa phù hợp. Quy định rõ ràng hơn về việc xác định tình trạng hôn nhân của các bên tham gia kết hôn, nhất là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng trước khi xuất cảnh tại Việt Nam đã đủ tuổi kết hôn hoặc trường hợp kết hôn lần thứ hai trở lên phải có Bản án ly hôn hoặc giấy chứng tử, có quy định rõ ràng về trình độ ngôn ngữ giao tiếp chung, tìm hiểu về văn hoá, phong tục tập quán của quốc gia có người nước ngoài kết hôn với phụ nữ Việt Nam.
– Quá trình phỏng vấn cần được thực hiện một cách kỹ lưỡng để đảm bảo cuộc hôn nhân đó trên tinh thần tự nguyện, 2 bên đã có tìm hiểu về nhau, về gia đình, văn hóa đất nước mình sẽ sinh sống. Tránh trường hợp phỏng vấn qua loa, dễ bỏ sót các vụ mua bán người, kết hôn vì mục đích khác, ảnh hưởng tới cuộc sống của người phụ nữ về sau.
– Những trường hợp được ủy quyền trong kết hôn có yếu tố nước ngoài cần được siết chặt, cả hai bên đường sự buộc phải có mặt, trừ lý do chính đáng. Tránh tạo ra kẽ hở để các bên lợi dụng kết hôn giả hoặc môi giới trục lợi.
– Cần bổ sung quy định về việc từ chối đăng ký kết hôn trong các văn bản pháp luật, nếu qua kiểm tra xác minh mà thấy rằng việc kết hôn đó không phù hợp đạo đức, thuần phong mỹ tục. Việc này sẽ tăng cường quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu quả của việc kết hôn có yếu tố nước ngoài.
– Cần có những thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam và nhiều quốc gia về lĩnh vực hôn nhân có yếu tố nước ngoài (đặc biệt là với những quốc gia có nhiều người lấy vợ Việt Nam), có những biện pháp thích hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ Việt Nam, hạn chế trường hợp họ bị bóc lột sức lao động, bắt làm vợ chung… mà không ai hay biết để giúp đỡ.
– Rà soát cán bộ làm công tác tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài nhằm đảm bảo cán bộ có đủ năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức.
– Chủ động cải cách mô hình “một cửa” ngày một tốt hơn trong lĩnh vực tư pháp nói chung và kết hôn theo Nghị định 69/2006/NĐ-CP nói riêng.
– Chú trọng rút ngắn thời gian giải quyết đăng ký kết hôn xuống còn 17 ngày làm việc, công khai hoá thủ tục, thời gian giải quyết và lệ phí đăng ký kết hôn.
3.3 Tuyên truyền, giáo dục:
- Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người phụ nữ về phẩm chất đạo đức và truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.
– Đẩy mạnh và duy trì thường xuyên công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình trên các địa bàn dân cư, nhất là các đối tượng phụ nữ nhập cư vào thành phố. Trên thực tế, đa số người kết hôn với người nước ngoài những năm gần đây là các cô gái từ các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, học vấn thấp, ít hiểu biết. Vì thế, các địa phương cần tích cực tổ chức cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, hạn chế tình trạng thiếu thông tin hoăc có thông tin sai lệch.
– Cần tăng cường việc khảo sát nắm tình hình gia đình có phụ nữ lấy chồng nước ngoài, tuyên truyền quy định pháp luật về bảo về quyền lợi, danh dự và nhân phẩm của phụ nữ. Vì phần lớn phụ nữ Việt Nam trước khi ra nước ngoài sinh sống cùng chồng chưa được tư vấn đầy đủ để có những hiểu biết cần thiết về pháp luật, ngôn ngữ và phong tục tập quán của nước sở tại.
3.4 Phối hợp với các cơ quan có liên quan để nâng cao chất lượng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân có yếu tố nước ngoài
– Cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực này. Sở Tư pháp cần đưa thông tin rõ ràng, chính xác cho Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện để việc quản lý ở địa phương tốt hơn.
– Bên cạnh đó, cần nâng cao sự phối hợp trong thẩm tra, xác minh, cung cấp, thông báo thông tin giữa các cơ quan Công an, Tư pháp và các ngành có liên quan khác nhằm phát hiện, ngăn chặn các trường hợp không đủ điều kiện kết hôn hoặc vi phạm pháp luật. Tập trung rà soát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý kiên quyết các tổ chức, cá nhân môi giới hôn nhân bất hợp pháp.
– Các cơ quan chức năng không cho phép tổ chức lễ cưới trước khi Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Vì có nhiều người chưa hoàn tất thủ tục kết hôn đã tổ chức lễ cưới và chung sống như vợ chồng rồi lại bỏ về nước, cần phải tránh sự thiệt thòi cho phụ nữ Việt Nam.
– Các tổ chức đoàn thể, nhất là đoàn thanh niên, hội phụ nữ cần tạo ra những sân chơi vui tươi, lành mạnh, cuốn hút thanh niên, tạo nhiều hội nhóm sinh hoạt, dạy nghề, tạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho thanh niên, tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, xây dựng tổ quốc, chống chủ nghĩa cơ hội, lối sống thực dụng, đua đòi, văn hóa ngoại lai trong một bộ phận thanh niên.
– Ngoài ra cần củng cố và duy trì hoạt động của Trung tâm hỗ trợ kết hôn thành phố để hỗ trợ cho người có nhu cầu kết hôn với người nước ngoài, giúp các phụ nữ kết hôn có yếu tố nước ngoài có thông tin về đất nước, con người nơi họ sẽ đến nhằm sớm hòa nhập, góp phần ngăn chặn các trường hợp bị lợi dụng trong hôn nhân, hôn nhân bất hợp pháp.
Tóm lại, rất cần sự hợp tác của cả người dân và cơ quan Nhà nước để vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài thực sự có hiệu quả
Không có nhận xét nào: