Ads Top

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam



Để nâng cao hiệu quả thu hút FDI trong thời gian tới cần thực hiện một số biện pháp sau:


-Quán triệt hơn nữa quan điểm của Đảng về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả thu hút ĐTNN, nhất là nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết Trung ương 9. Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức và hành động giữa các Bộ ngành, giữa Trung ương và địa phương về thu hút và sử dụng vốn ĐTNN. Đề nghị đưa vào chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết trung ương 09 các quan điểm chỉ đạo và các biện pháp cụ thể.


– Nghiên cứu chiến lược thu hút và sử dụng vốn FDI đến năm 2010 phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cho từng năm, từng giai đoạn. Đề nghị Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng chiến lược này trình Chính phủ trong năm 2004.


– Hoàn chỉnh quy hoạch, dỡ bỏ một số hạn chế về đầu tư. Rà soát điều chỉnh quy hoạch ngành theo hướng xoá bỏ độc quyền và bảo hộ sản xuất trong nước, tạo điều kiện cho khu vực ĐTNN tham gia nhiều hơn vào phát triển các ngành. Trước mắt, đề nghị điều chỉnh Quy hoạch ngành xi măng, sắt thép, nước giải khát, viễn thông, tổng sơ đồ phát triển ngành điện theo hướng loại bỏ bớt các hạn chế đối với ĐTNN phù hợp với các cam kết quốc tế song phương và đa phương. Ban hành các quy hoạch ngành còn thiếu như quy hoạch mạng lưới các trường đại học, dạy nghề cùng với các điều kiện, tiêu chuẩn cấp phép cho các dự án thuộc lĩnh vực này. Trên cơ sở đó sớm xem xét chấm dứt hiệu lực của Công văn số 180/VPCP-QHQT của Văn phòng Chính phủ về việc yêu cầu tạm dừng xem xét các dự án mới đào tạo đại học. Điều chỉnh lại Quy hoạch phát triển Khu công nghiệp đến năm 2010 cho phù hợp với tình hình thực tế tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương có thể chủ động xây dựng mới hoặc mở rộng KCN trong trường hợp đã lấp đầy trên 60% diện tích đất công nghiệp hiện có.


Hoàn chỉnh Danh mục dự án quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài, bổ sung những dự án quy mô lớn cần kêu gọi đầu tư nước ngoài. Đề nghị Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương soạn thảo trình Thủ tướng Chính phủ trước tháng 12 năm 2004 Danh mục mới kêu gọi đầu tư nước ngoài đến năm 2010.


– Tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về ĐTNN theo hướng hình thành một mặt bằng pháp lý chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, tạo thêm điều kiện thuận lợi, đảm bảo tính minh bạch và dễ tiên đoán, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.


Trước mắt giải quyết các vướng mắc về thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng theo hướng Bộ KH & ĐT đã trình Thủ tướng Chính Phủ tại Công văn số 806/BKH-PC ngày 6/2/2004. Sửa đổi Nghị định số 105/2003/NĐ-CP ngày 19/9/2003 của Chính phủ theo hướng nới lỏng hạn chế tỷ lệ lao động nước ngoài trong các doanh nghiệp ĐTNN hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, giáo dục đào tạo, cơ sở khám chữa bệnh.


Triển khai có hiệu quả các Nghị định mới của Chính phủ như Nghị định 27/2003/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của NĐ 24/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật ĐTNN tại Việt Nam; Nghị định 38/2003/NĐ-CP về chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần; Quyết định số 146/2003/QĐ-Ttg ngày 11/3/2003 về việc góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam. Sớm ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 về quy chế KCN-KCX-KCN cao. Đề nghị các Bộ, ngành sớm ban hành các thông tư hướng dẫn như Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn Nghị định 06 của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích ĐTNN và lĩnh vực giáo dục, đào tạo; Thông tư của Ngân hàng nhà nước hướng dẫn việc thế chấp quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam; Thông tư hướng dẫn việc niêm yết của các công ty cổ phần có vốn ĐTNN trên thị trường chứng khoán; văn bản của Bộ Thương mại phân loại chi tiết nguyên liệu sản xuất, vật tư, linh kiện được miễn thuế nhập khẩu để thực hiện việc miễn thuế nhập khẩu trong 5 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất đối với các dự án đầu tư nước ngoài vào các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.


Nghiên cứu và áp dụng hình thức mua lại và sát nhập (M & A) vào thực tế nước ta để mở kênh mới thu hút ĐTNN, vì đây cũng là một động lực của dòng vốn ĐTNN hiện nay. Nghiên cứu áp dụng một số hình thức đầu tư mới như mô hình công ty mẹ-con (Holding Company), công ty hợp danh để tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam.


– . Tiếp tục cải tiến quy trình thẩm định dự án, theo hướng mở rộng diện đăng ký cấp phép đầu tư, rút ngắn thời hạn thẩm định, từng bước chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Trước mắt, đề nghị các Bộ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố xem xét có ý kiến sớm về các dự án mà Bộ KH & ĐT đã gửi xin ý kiến, thực hiện đúng quy định về thời gian xem xét góp ý ghi trong Nghị định 24/2001/NĐ-CP của Chính phủ (không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ).


– Đẩy nhanh lộ trình áp dụng cơ chế một giá và cắt giảm một số chi phí sản xuất nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh và xoá bỏ phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Đề nghị Chính phủ quyết định thống nhất áp dụng cơ chế một giá đối với đầu tư trong nước và ĐTNN từ đầu năm 2005 và công bố rộng rãi để các nhà đầu tư biết.


– Giải quyết kịp thời các vấn đề vướng mắc phát sinh giúp các doanh nghiệp triển khai dự án thuận lợi kết hợp với khuyến khích mở rộng đầu tư. Tiếp tục rà soát các dự án theo tinh thần Nghị quyết 09 của Chính phủ để một mặt thúc đẩy tiến độ triển khai các dự án gặp khó khăn, mặt khác xử lý rút giấy phép đầu tư đối với các dự án không có khả năng triển khai để tìm đối tác mới thay thế. Trước mắt, xử lý dứt điểm các vướng mắc của các dự án lớn nêu trong Báo cáo chuyên đề về các dự án lớn gặp vướng mắc.


– Đổi mới, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác vận động, xúc tiến đầu tư. Trong năm 2004 Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm xây dựng và trình Chính phủ chương trình hành động quốc gia về xúc tiến đầu tư nước ngoài đến năm 2010. Trước mắt cần đổi mới về nội dung và phương thức vận động, xúc tiến đầu tư theo một chương trình chủ động, có hiệu quả phù hợp với từng địa bàn, loại hình doanh nghiệp. Tăng cường bộ phận xúc tiến đầu tư tại các Bộ, ngành, các cơ quan đại diện nước ta ở một số địa bàn trọng điểm ở nước ngoài để chủ động vận động, xúc tiến đầu tư trực tiếp đối với từng dự án, từng tập đoàn, công ty, nhà đầu tư có tiềm năng, nhất là các Tập đoàn xuyên quốc gia.


Kiến nghị Chính phủ cho phép thành lập Quỹ xúc tiến đầu tư trong năm 2004 nhằm đảm bảo nguồn kinh phí cho công tác xúc tiến, vận động đầu tư hàng năm theo hướng trích 1% từ nguồn đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để trang trải công tác vận động xúc tiến đầu tư của các ngành, địa phương.          Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại tổ chức phối hợp nghiên cứu tình hình kinh tế, thị trường đầu tư, chính sách của các nước, các tập đoàn và công ty lớn để có chính sách thu hút đầu tư phù hợp; nghiên cứu luật pháp, chính sách, biện pháp thu hút ĐTNN của các nước trong khu vực để kịp thời có đối sách thích hợp.


– Triển khai thực hiện Sáng kiến chung Việt Nam-Nhật Bản. Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị giao các Bộ, ngành triển khai thực hiện các thỏa thuận trong Chương trình hành động Sáng kiến chung Việt-Nhật gồm 44 điểm trong phạm vi chức năng quản lý của mình.


– Thanh toán dứt điểm trong năm 2004 các công trình điện ngoài hàng rào theo Nghị quyết 09/2001/NĐ-CP của Chính phủ và Chỉ thị số 19 của Thủ tướng Chính phủ. Đối với những trường hợp vướng mắc, không thể thanh toán được, đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định để thông báo rõ với chủ đầu tư.


– Đề nghị Chính phủ giao Bộ Tài nguyên-Môi trường phối hợp với các cơ quan chức năng nghiên cứu trình Chính phủ phương án xử lý các vướng mắc của các dự án kinh doanh nhà và phát triển khu đô thị. Cụ thể: các vướng mắc về cơ chế chuyển quyền sử dụng đất cho người mua, cơ chế thuê, cho thuê lại đất; cơ chế đối với các dự án thứ cấp; các quy định đối với các công trình sau khi bán hết nhà.v.v.


– Tiếp tục mở rộng phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài, sửa đổi Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phân cấp quản lý dự án đầu tư nước ngoài đối với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến 20 triệu USD – áp dụng chung cho tất cả các tỉnh, thành phố.


– Đề nghị Chính phủ giao Bộ Công nghiệp phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp phụ trợ và các giải pháp nhằm tăng cường liên kết giữa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế trong nước. giải pháp nhằm

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.