Lãi suất chậm trả trong hợp đồng
Ông Hùng có mua vật liệu xây dựng trang trí nội thất của ông Ái và kết sổ ngày 25/03/2005, ông Hùng còn nợ ông Ái số tiền là 39.804.000 đ. Đến tháng 08/2006, ông Hùng đã trả được 13.200.000 đ, số tiền còn nợ là 28.084.000 ông Hùng cũng đồng ý trả số nợ trên và lãi phát sinh từ tháng 09/2006 nhưng xin được trả dần mỗi tháng 2.000.000 đ cho đến khi hết nợ.
Tòa phúc thẩm nhận định bản án sơ thẩm buộc ông Hùng phải trả cho ông Ái số tiền gốc và lãi tổng cộng 31.559.000 đ, trong đó nợ mua bán là 28.084.000 đ và lãi suất phát sinh do chậm trả tính từ tháng 09/2006 cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm tháng 09/2007 là 12 tháng và theo quyết định số 632/QĐ-NHNN ngày 29/03/2003 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì lãi suất quá hạn được tính trên cơ sở lãi suất cơ bản tại thời điểm xét xử là 0,6875%/tháng x 150% = 1,0312%/tháng x 12 tháng = 3.475.000 đ là không đúng với quy định tại khoản 2, Điều 438 BLDS về nghĩa vụ trả tiền “Bên mua phải trả lãi, kể từ ngày chậm trả theo quy định tại khoản 2, Điều 305 Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Theo khoản 2, Điều 305 BLDS “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ dân sự chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Tòa phúc thẩm nhận định vụ án này thuộc loại án tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, ngoài việc vi phạm nghĩa vụ trả tiền, các đương sự không có thỏa thuận nào khác. Như vậy, trong trường hợp, mức lãi suất được tính là 28.084.000 đ x 0,6875%/tháng x 12 tháng = 2.316.930 đ. Tòa phúc thẩm đã sửa án sơ thẩm theo hướng tổng số tiền gốc và lãi mà ông Hùng phải trả ông Ái là 30.409.930 đ. Tòa phúc thẩm và Tòa sơ thẩm đều bác yêu cầu trả góp hàng tháng 2.000.000 đ của ông Hùng đối với số tiền nợ ông Ái. Tòa buộc ông Hùng phải thi hành ngay việc trả tiền cho ông Ái sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, Tòa phúc thẩm nêu rõ kể từ ngày ông Ái có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Hùng chưa thi hành thì hàng tháng ông Hùng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng quy định tương với số tiền và thời gian thi hành án.
Bình luận của tác giả:
Lãi chậm trả trong trường hợp chậm thanh toán tiền (ngoài quan hệ cho vay không lãi) phát sinh ngay cả khi các bên không có thỏa thuận về vấn đề này. Lưu ý điểm khác biệt trong quan hệ cho vay không lãi. Bởi theo khoản 4 Điều 476 BLDS 2005: “Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thỏa thuận”. Nói cách khác, trong quan hệ cho vay không lãi, lãi chậm trả chỉ phát sinh khi các bên có thỏa thuận về vấn đề này.
Bên có quyền không phải chứng minh đã bị thiệt hại khi yêu cầu lãi chậm trả;
Bên có quyền có thể yêu cầu kết hợp lãi chậm trả và bồi thường thiệt hại vì các lý do sau: (i) không có quy định pháp luật hiện hành nào cấm việc kết hợp này; (ii) chịu lãi chậm trả và bồi thường thiệt hại được quy định ở hai chế định khác nhau. Khi những điều kiện của bồi thường thiệt hại được thỏa mãn thì không có lý do gì mà không chấp nhận áp dụng kết hợp.
Thời điểm bắt đầu phát sinh lãi chậm trả là thời điểm ngay sau thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết. Nếu các bên có thỏa thuận về thời hạn thanh toán thì chúng ta căn cứ vào thời hạn này (thỏa thuận này có thể có trước khi có tranh chấp hay sau khi có tranh chấp và có thể được thể hiện trong quá trình giải quyết tranh chấp). Nếu các bên không có thỏa thuận mà pháp luật có quy định ngày thực hiện, ngày thanh toán thì chúng ta sử dụng thời điểm này để tính thời điểm bắt đầu. VD, theo Điều 438.1 BLDS: “Nếu không có thỏa thuận thì phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm giao tài sản”. Trong bản án số 49, Tòa án cho rằng “lãi suất phát sinh do chậm trả tính từ tháng 09/2006”. Tại sao là từ tháng 09/2006? Trong bản án có chi tiết về việc “ông Hùng cũng đồng ý trả số nợ trên và lãi phát sinh từ tháng 09/2006”. Như vậy dường như các bên thống nhất với nhau về thời điểm bắt đầu phát sinh lãi chậm trả và sự thống nhất này thuộc quyền định đoạt của các đương sự.
Theo bản án này, thời điểm cuối cùng chịu lãi là tính đến ngày xét xử sơ thẩm. Tuy vậy, trong một số bản án khác thì Tòa án xác định để tính lãi chậm trả là thời điểm giám đốc thẩm hoặc lần xét xử cuối cùng. Như vậy, thực tiễn xét xử không thực sự thống nhất về ngày cuối cùng phát sinh lãi chậm trả.
Ngoài ra, trong bản án này, kể từ ngày ông Ái có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Hùng chưa thi hành án thì hàng tháng ông Hùng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng quy định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án. Với hướng này thì sau khi xét xử đến khi thi hành án, chúng ta không có lãi chậm trả và từ khi có đơn thi hành án thì lãi lại phát sinh. Ở đây có một khoảng thời gian khoản tiền này “nằm chết” không phát sinh lãi. Hướng giải quyết này là không thuyết phục dưới góc độ văn bản. Bởi theo Điều 306 Luật thương mại, bên có nghĩa vụ thanh toán chịu lãi chậm trả “tương ứng với thời gian chậm trả” và theo Điều 305 BLDS, bên có nghĩa vụ chịu lãi chậm “trả tương ứng với thời gian chậm trả”. Như vậy, chừng nào khoản tiền phải trả chưa được thanh toán thì khoản tiền này phát sinh lãi suất. Từ khi kết thúc xét xử đến khi thi hành án, khoản tiền cần phải trả chưa được thanh toán vẫn phát sinh lãi. Do đó, để bảo đảm quyền lợi cho bên được thi hành án và hạn chế việc bên phải thi hành cố tình dây dưa, không thi hành án, giải pháp hợp lý có lẽ là bắt bên có nghĩa vụ phải chịu lãi suất “cho đến khi thanh toán hết”. Thời điểm này không phải là thời điểm xét xử mà muộn hơn và phụ thuộc vào ý thức của bên có nghĩa vụ.
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Không có nhận xét nào: