Khái niệm thị trường liên quan trong luật cạnh tranh
Tuy nhiên, trên thực tế, làm thế nào để xác định phản ứng của khách hàng với việc tăng giá giả định này?
Ủy ban châu Âu công nhận rằng những bằng chứng liên quan và thuyết phục sẽ phụ thuộc vào công nghệ, sản phẩm, hoặc dịch vụ cạnh tranh, cũng như cho rằng họ có thể thiết lập thị trường tiềm năng trên cơ sở thông tin ban đầu có giá trị hoặc do các công ty liên quan đệ trình. Thông thường, vấn đề được rút lại với câu hỏi đơn giản “liệu sản phẩm A có nằm trong cùng thị trường với sản phẩm B không?”. Đến đây, vụ việc được xác định mà không cần định nghĩa chính xác về thị trường. Tuy nhiên, đối với những trường hợp đòi hỏi phải có định nghĩa chính xác hơn về thị trường, Ủy ban châu Âu có thể liên lạc với những khách hàng và công ty chính trong ngành, hiệp hội chuyên nghiệp và những công ty ở thị trường sơ cấp để xác minh chính xác về quan điểm của mình. Ủy ban châu Âu có thể chuyển yêu cầu cung cấp thông tin bằng văn bản tới các doanh nghiệp trong thị trường (hỏi ý kiến về phản ứng với việc tăng giá giả định và trên ranh giới thị trường), tham gia thảo luận với họ, thậm chí bố trí làm việc hoặc thanh tra theo gợi ý của các bên, khách hàng hoặc đối thủ cạnh tranh. Đối với những thị trường khách hàng cảm thấy băn khoăn, việc đưa ra câu hỏi giả định được thừa nhận có thể dẫn đến nhiều kết quả khác nhau và những người được hỏi có thể trả lời theo cách khác biệt so với thực tiễn. Nghiên cứu thái độ khách hàng khiến các nhà kinh tế ủng hộ “phân tích kết hợp” do đó “trao đổi” mà người tiêu dùng tiến hành khi đối mặt với những sản phẩm khác nhau (ví dụ giữa giá cả và chất lượng, lòng tin và xu hướng) có thể được đưa vào trong phân tích.
Kinh nghiệp của Ủy ban châu Âu cũng cho thấy họ sẽ xem xét đến khía cạnh của những cuộc kiểm tra định lượng được tiến hành bởi các nhà kinh tế để phân định thị trường. Những cuộc kiểm tra này bao gồm ước tính độ co dãn, kiểm tra dựa trên sự đồng nhất của dịch chuyển giá qua thời gian (phân tích tương quan giá), tính toán nguyên nhân, và phân tích hội tụ giá. Cụ thể, Ủy ban châu Âu sẽ xem xét những bằng chứng thay thế có thể áp dụng được trong quá khứ từ kết quả của việc phân tích cú sốc thực tế, bao gồm việc tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh hoặc giới thiệu sản phẩm mới. Nói cách khác, Ủy ban châu Âu ngụ ý rằng “nguồn thông tin này thông thường sẽ giữ vai trò cơ bản cho định nghĩa thị trường”. Bằng chứng về kết quả của việc giới thiệu sản phẩm mới trên doanh thu của những sản phẩm tồn cũng được cho là hữu ích.
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của cơ quan cạnh tranh Vương quốc Anh (OFT) còn một số vấn đề tồn tại với việc kiểm tra này.
Nhìn chung, cần xem xét thận trọng với những cuộc kiểm tra chỉ dựa vào chiều hướng giá cả, bởi vì chúng không đánh giá được liệu khi có doanh nghiệp tham gia thị trường, giá có được tăng lên cùng lợi nhuận không. Tuy nhiên, những dữ liệu ít ỏi thường cản trở nhà phân tích trong việc đánh giá đâu là mô hình cầu thích hợp hơn, cốt để thị trường chống độc quyền được xác định trên cơ sở chỉ bản thân kiểm tra giá.
Bishop và Walker thừa nhận một vài yếu điểm của phân tích tương quan giá, nhưng vẫn dự đoán cách phân tích này có thể cung cấp thông tin hữu ích hỗ trợ định nghĩa thị trường. Một trong những điểm đáng chú ý là nó có “yêu cầu thông tin tương đối thấp và dễ sử dụng”. Vấn đề này đặc biệt quan trọng, như trong các cuộc điều tra liên doanh, khi cơ quan cạnh tranh không còn nhiều thời gian để đưa ra phán quyết. Có sự nhất trí là tương quan giá có thể nhận dạng được thị trường kinh tế nhưng không phải lúc nào cũng xác định được thị trường chống độc quyền, tức là không trả lời câu hỏi “có phải thị trường này có độc quyền không?”. Tuy nhiên, như kinh nghiệm của OFT kết luận, mặc dù phương pháp định lượng không phải “viên đạn thần kỳ” nhưng khi được sử dụng một cách chính xác và chặt chẽ, chúng có thể là những công cụ rất hữu ích. Ủy ban châu Âu sẽ không xem xét dựa trên dấu hiệu bên ngoài hai thay thế về cầu là thuộc cùng một thị trường nếu Ủy ban châu Âu thấy rằng có những rào cản cản trở khách hàng thay đổi sang sản phẩm thay thế. Trong một hướng dẫn của mình, Ủy ban châu Âu đã nói về Những rào cản và chi phí gắn với việc thay đổi nhu cầu chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế tiềm năng. Chi phí chuyển đổi sản phẩm (switching costs) là giá mà người tiêu dùng trả khi chuyển sang sử dụng sản phẩm khác. Chúng không nhất thiết phải liên quan đến tài chính, nhưng lại chứa đựng nhiều bất lợi và phiền phức. Chi phí chuyển đổi sản phẩm cũng có thể là rào cản gia nhập thị trường, có thể được tạo ra hoặc tăng lên bởi các công ty lớn như một thủ đoạn ngăn chặn. Sẽ là không thể để đưa ra một danh sách trọn vẹn về chi phí chuyển đổi sản phẩm và dự đoán về mọi rào cản có thể đối với việc chuyển đổi sản phẩm. Những rào cản này có nguồn gốc khác nhau và hình thức khác nhau như can thiếp quốc gia, sức ép phát sinh từ thị trường thứ cấp, nhu cầu đầu tư vốn đặc biệt hoặc chịu tổn thất sản phẩm đầu ra để chuyển sang sử dụng đầu vào thay thế, vị trí của khách hàng, đầu tư đặc biệt trong quá trình sản xuất, nghi ngờ về chất lượng và uy tín của các nhà cung cấp không có danh tiếng, và nhiều nhân tố khác.
b. Đặc tính và mục đích sử dụng
Đặc tính và mục đích sử dụng đã được diễn giải thêm trong Nghị định số 116/2005/ NĐ-CP.
Việc xác định sự tương tự về đặc tính của sản phẩm đòi hỏi phải phân tích các yếu tố trong cấu tạo vật chất của sản phẩm như các yếu tố lý hoá, các tác dụng phụ đối với người sử dụng(Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.)… Bởi lẽ các sản phẩm không tương đồng nhau về những yếu tố trên thì không thể thay thế cho nhau, ví dụ các loại Vitamin không thể thay thế cho nhau bởi các thành phần dinh dưỡng, đặc tính vật lý, nguyên lý chuyển hoá chất khi sử dụng… của chúng không giống nhau. Việc xác định sự tương đồng về các yếu tố vật chất lý hoá của sản phẩm là khâu quan trọng hàng đầu trong việc điều tra thị trường liên quan trong trường hợp cần thiết làm cơ sở để cơ quan điều tra khoanh vùng các sản phẩm có khả năng nằm trong một vùng thị trường và thực hiện các bước điều tra tiếp theo. Theo Nghị định số 116/2005/NĐ-CP “hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về đặc tính nếu hàng hoá, dịch vụ đó có nhiều tính chất về vật lý,hoá học, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng và khả năng hấp thụ giống nhau”(Điểm a khoản 5 Điều 4 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.).
Các sản phẩm được coi là có thể thay thế cho nhau về mục đích sử dụng, về đặc tính nếu như chúng có mục đích sử dụng, có nhiều tính chất vật lý, tính chất hoá học, tác động phụ với người sử dụng giống nhau(Khoản 1, 2 Điều 15 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.). Nói cách khác, các sản phẩm được coi là cạnh tranh với nhau khi tính chất của nó giống nhau. Dưới góc độ khoa học, mục đích sử dụng là những yếu tố cơ bản được nhìn nhận từ nhu cầu tiêu dùng của người sử dụng. Các sản phẩm đáp ứng cho cùng một nhu cầu sử dụng được coi là thay thế cho nhau về mục đích sử dụng. Khi phân tích dấu hiệu này, cơ quan có thẩm quyền cần phải nhìn nhận hiện tượng dưới góc độ của người sử dụng hàng hoá, dịch vụ thay vì với vai trò của cơ quan quản lý nhà nước. Mục đích sử dụng của hàng hóa dịch vụ được xác định căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu nhất của hàng hoá, dịch vụ đó(Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.). Vì thế, nếu có nhiều mục đích sử dụng, các sản phẩm thay thế cho nhau khi mục đích sử dụng chủ yếu giống nhau.
Trong thực tế, việc xác định khả năng thay thế về tính chất của các sản phẩm không đơn giản. có những sản phẩm về lý thuyết có khả năng thay thế cho nhau nhưng nếu thực tế chúng lại đáp ứng nhu cầu của những đối tượng khách hàng khác biệt về sức mua, về những ưu tiên manng tính định tính rõ nét (như dịch vụ ăn uống của các nhà hàng và của các căngtin trường học không thay thế cho nhau bởi căngtin trường học còn đáp ứng thêm nhu cầu giám sát học sinh) hoặc khác biệt nhau vì được áp dụng các phương thức kinh doanh khác nhau thì vẫn không thể kết luận rằng chúng có khả năng thay thế cho nhau(Dominique Brault, Chính sách và thực tiễn pháp luật cạnh tranh của Cộng hòa Pháp (Hà Nội: Tập 2, NXB chính trị quốc gia, 2005), tr 222.). Vì thế, cơ quan điều tra phải sử dụng các công cụ kỹ thuật z- kinh tế và kinh nghiệm thực tiễn để xác định các yếu tố cấu thành nên mục đích sử dụng và đặc tính của sản phẩm.
Việc phân tích đặc tính và mục đích sử dụng sản phẩm cho phép cơ quan cạnh tranh, ở giai đoạn điều tra đầu tiên, hạn chế phạm vi điều tra những sản phẩm có thể thay thế. Tuy nhiên, đặc tính và mục đích sử dụng của sản phẩm không đủ để nhận dạng sản phẩm thay thế về nhu cầu. Tính hoán đổi chức năng hoặc bản thân sự đồng nhất của đặc tính có thể không cung cấp đầy đủ tiêu chí bởi vì phản ứng của khách hàng với sự thay đổi tương đối về giá có thể được quyết định bởi những nhân tố khác. Ví dụ, có sức ép cạnh tranh khác nhau trong thị trường thiết bị, phụ tùng nguyên bản đối với phụ tùng ô tô và linh kiện dữ trự, do đó dẫn đến sự mô tả riêng biệt của hai thị trường liên quan. Ngược lại, sự khác nhau trong bản thân đặc tính sản phẩm là không đủ để loại trừ sự thay thế về cầu, khi mà điều này sẽ phụ thuộc vào mức độ đánh giá đặc tính khác nhau của khách hàng.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, việc kiểm tra đặc tính của sản phẩm là yếu tố quyết định để xác định thị trường liên quan. Ví dụ trong một vụ việc cạnh tranh ở châu Âu (United Brands), Tòa án đã dựa vào đặc tính của chuối để xác định chuối nằm trong thị trường riêng biệt so với các hoa quả khác. Ở đây, việc xem xét mục đích của sản phẩm là quan trọng vì nó giúp xác định liệu có sản phẩm thay thế không. Ở một vụ việc khác (Van den Bergh Foods Ltd) Tổng cục Cạnh tranh của châu Âu đã quyết địnhloại kem mua theo từng khẩu phần lẻ tại các cửa hàng để tiêu thu ngay và loại kem mua nhiều gói để dự trữ và tiêu thụ tại nhà nằm trong hai thị trường riêng biệt. Điều này được Tổng cục Cạnh tranh châu Âu giải thích là vì “sự khác biệt trên cơ sở mục đích sử dụng của khách hàng trong việc mua kem đã xác định sự khác nhau trong đặc tính về giá giữa sản phẩm ăn ngay và sản phẩm tiêu thụ tại nhà”. Tương tự, trong quyết định năm 2001 về vụ Michelin (Michelin II), Tổng cục Cạnh tranh châu Âu quyết định mà không sử dụng SSNIP test rằng thị trường lốp thay mới cho xe tải và xe bus là riêng biệt. Cơ quan này đã xem xét “phân tích những đặc tính riêng biệt và công dụng của lốp xe bởi khách hàng cuối cùng” dựa trên các cuộc khảo sát (các công ty chuyên chở vận tải).
Không có nhận xét nào: