Điều kiện giao dịch trong thương mại quốc tế
1. Điều kiện tên hàng:
Tên hàng là điều khoản quan trọng nhất của mọi đơn chào hàng, thư hỏi hàng, hợp đồng hoặc nghị định thư. Nó nêu lên chính xác đối tượng mua bán, trao đổi. Có nhiều cách thức để diễn đạt tên hàng: tên thương mại của hàng hoá kèm theo tên thông thường và tên khoa học, tên của hàng hoá kèm theo tên địa phương sản xuất hàng hoá đó, tên hàng kèm theo tên nhà sản xuất, tên hàng kèm nhãn hiệu…
2. Điều kiện phẩm chất.
Phẩm chất là điều khoản nói lên mặt “chất” của hàng hoá, bao gồm tính năng, quy cách, tác dụng, công suất, hiệu suất…Phương pháp xác định hàng hoá dựa trên: mẫu hàng, catelory hoặc tiêu chuẩn, quy cách, hiện trạng của hàng hoá…
3. Điều kiện số lượng
Điều khoản này chỉ ra mặt lượng của hàng hoá được giao dịch, bao gồm các vấn đề về đơn vị tính số lượng (hoặc trọng lượng) của hàng hoá, phương pháp quy định số lượng và phương pháp xác định trọng lượng.
Các đợn vị tính số lượng: về chiều dài: mua bán, inch, yard, mile…; trọng lượng: kg, granin, ounce…
Phương pháp xác định trọng lượng: có thể dụng phương pháp trọng lượng cả bì và trọng lượng tĩnh.
4. Điều kiện bao bì
Các bên trong hợp đồng thường thoả thuận với nhau về chất lượng và giá cả của bao bì. Chất lượng của bao bì có thể được quy định cụ thể trong hợp đồng.
5. Điều kiện về giá cả
Trong giao dịch buôn bán điều kiện giá cả là một điều kiện quan trọng, bao gồm những vấn đề như: Đồng tiền tính giá, mức giá, phương pháp quy định giá…
Tuỳ theo phương pháp quy định, có thể có các loại giá: giá cố định, giá, quy định sau, giá linh hoạt, giá di động.
6. Điều khoản giao hàng
Nội dung cơ bản của điều kiện giao hàng là sự xác định thời hạn và địa điểm giao hàng, sự xác định phương thức giao hàng và việc thông báo giao hàng
7. Điều kiện thanh toán
Điều khoản này trong hợp đồng thương quy định những vấn đề về đồng tiền thanh toán, thời hạn trả tiền, phương thức trả tiền và các điều kiện đảm bảo hối đoái.
Đồng tiền thanh toán có thể là đồng tiền của nước xuất khẩu hay nước nhập khẩu hay nước thứ ba, và các bên trong hợp đồng phải đặc biệt lưu ý đến tỷ giá ngoại tệ.
Thời hạn thanh toán có thể trả trước, trả ngay hoặc trả sau.
Phương thức thanh toán: những phương thức thanh toán phổ biến nhất thường được dùng trong quan hệ mua bán quốc tế là:
+ Phương thức trả tiền mặt: có thể tiến hành ngay khi ký hợp đồng hoặc đặt hàng (CWO), hoặc trước khi người bán giao hàng (CBD), khi người bán giao hàng (COD), hoặc khi người bán xuất trình chứng từ (CAD).
+ Phương thức chuyển tiền: có thể được thực hiện bằng thư (M/T, M.T.), bằng phiếu (D/T, D.T.) hoặc bằng điện (T/T, T.T., T/TR, T.TR.).
+ Phương thức ghi sổ.
+ Phương thức nhờ thu.
8. Bảo hiểm và khiếu nại.
Nếu hợp đồng không có điều khoản quy định về bảo hiểm, người bán không có nghĩa vụ phải bảo hiểm. Nếu có điều khoản bảo hiểm người bán có nghĩa vụ phải thay thế và sửa chữa hàng hoá hư hỏng trong thời gian bảo hành.
Khiếu nại là một việc một bên yêu cầu bên kia phải giải quyết những tổn thất hoặc thiệt hại mà bên kia gây ra hoặc về những vi phạm đều đã được cam kết giữa hai bên.
9. Điều kiện về trương hợp miễn trách.
Trong hợp đồng, người ta thường quy định những trường hợp có tính chất khách quan và không thể khắc phục được mà nếu xảy ra, các bên được hoàn toàn, hoặc trong chừng mực nào đó, miễn hay hoãn thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng. Những trường hợp như vậy được coi là “trường hợp bất khả kháng” hoặc trường hợp miễn trách.
Các trường hợp miễn trách bao gồm: chiến tranh, bạo loạn, biểu tình, lệnh cấm, lụt, bão, động đất, hoả hoạn, cháy nổ…
10. Điều kiện trọng tài.
Việc sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp về hợp đồng là khuynh hướng phổ biến hiện nay vì phương pháp này sẽ có nhiều ưu điểm như thủ tục đơn giản, xét xử kín…Có hai loại hình trọng tài là trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc.
Nhìn chung, đối với hợp đồng mua bán, ở những nước mà xuất khẩu được quốc hữu hoá hay thuộc độc quyền Nhà nước thì hợp đồng thường là theo những hợp đồng mẫu. Trong trường hợp này thì nên đặc biệt chú ý đến cách quy định chất lượng cũng như quyền khiếu nại và thời hạn cuối cùng cho việc bồi thương thiệt hại. Trong trường hợp này, người xuất khẩu thường được thiên vị hơn về lợi ích. Vì vậy, phải cố gằng thống nhất thoả thuận “điều khoản kiểm tra chất lượng” được thực hiện bởi một đại lý tư nhân hoặc một tổ chức quốc tế.
Đối với những hợp đồng của các doanh nghiệp tư nhân, nếu việc mua bán được thoả thuận thông qua một đại lý trung gian thì hợp đồng thường do đại lý đó lập ra. Điểm quan trọng là phải đảm bảo rằng những vấn đề sau được xác định rõ ràng:
– Khi nào có quyền khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại và có quyền đòi
bồi thường bao nhiêu.
– Có nên chọn toà án để giải quyết những bất đồng. Nếu có thì toà án
nào, theo những nguyên tắc nào, bộ Luật nào được áp dụng trong trường hợp này và xác định phạm vi quyền lực của toà án. Tất cả các hợp đồng nên quy định rõ Điều khoản ràng buộc trong đó chỉ rõ thủ tục trọng tài mà cả hai bên đều phải tuân thủ. Trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải được tất cả các bên liên quan ký.
Không có nhận xét nào: