Ads Top

Giải pháp cho vấn đề người không quốc tịch, người hai hay nhiều quốc tịch tại Việt Nam


 


Luật Quốc tịch 1998 được thi hành trên thực tế trong suốt 10 năm qua và nguyên nhân trên của tình trạng người không quốc tịch, người hai hay nhiều quốc tịch tại Việt Nam một phần là do những hạn chế trong Luật quốc tịch 1998. Vì thế, khi xây dựng Luật quốc tịch 2008 (có hiệu lực 01/07/2009), Quốc hội đã đưa đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế của luật Quốc tịch 1998 để điều chỉnh tình trạng người không quốc tịch, người hai hay nhiều quốc tịch :


–               Luật Quốc tịch 2008 vẫn tiếp tục khẳng định nguyên tắc một quốc tịch của luật Quốc tịch 1998 nhưng có một số trường hợp ngoại lệ : “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. So sánh với “Nguyên tắc một quốc tịch” của Luật quốc tịch năm 1998, có thể thấy “Nguyên tắc quốc tịch” trong Luật quốc tịch năm 2008 có sự mềm dẻo hơn. Nếu như ở Luật năm 1998 có ghi rõ là “Nguyên tắc một quốc tịch” thì đến Luật năm 2008 đã bỏ từ “một”, chỉ còn là “Nguyên tắc quốc tịch”. Về mặt nội dung, ngoài nội dung đã quy định trong Luật năm 1998, Luật năm 2008 còn bổ sung thêm “trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Như vậy, Luật năm 1998 không quy định về các trường hợp ngoại lệ có thể có hai quốc tịch (mặc dù trên thực tế vẫn có nhiều trường hợp được mang hai quốc tịch) thì đến Luật năm 2008 đã quy định rõ các trường hợp này. Việc khẳng định một số ngoại lệ có thể có hai quốc tịch không có nghĩa là từ bỏ nguyên tắc một quốc tịch mà chỉ là sửa đổi nguyên tắc này cho mềm dẻo hơn, phù hợp với chính sách của Nhà nước ta về hội nhập quốc tế, đại đoàn kết dân tộc và chính sách đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Những trường hợp ngoại lệ có thể có hai quốc tịch là những trường hợp được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài khi được nhập quốc tịch Việt Nam (khoản 3 Điều 19), được trở lại quốc tịch Việt Nam (khoản 5 Điều 23); trường hợp quốc tịch của trẻ em là con nuôi (Điều 37) và trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn có nguyện vọng giữ quốc tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 13).


–               Về việc xác định quốc tịch cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài : Luật năm 2008 quy định : “người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn năm năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nơi người đó định cư để giữ quốc tịch Việt Nam” (khoản 2 Điều 13). Như vậy, Nhà nước đã công nhận người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam trước ngày Luât này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Đồng thời, đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, Nhà nước cũng có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Nhà nước có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người đã mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam.


Tuy nhiên, Luật cũng quy định, trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày 1/7/2009 – thời điểm Luật  có hiệu lực – người chưa mất Quốc tịch Việt Nam phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam, nếu không đăng ký, coi như mất quốc tịch Việt Nam.


Để giải quyết vấn đề phát sinh từ tình trạng công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài, Luật quy định rõ: “Vấn đề phát sinh từ tình trạng công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài được giải quyết theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; trường hợp chưa có điều ước quốc tế thì được giải quyết theo tập quán và thông lệ quốc tế”.


–         Để giải quyết vấn đề quốc tịch cho những người không quốc tịch đã cư trú ổn định, lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam, Luật quy định “Người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ hai mươi năm trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định” (Điều 22).


Đối tượng để được áp dụng quy định này là người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân nhưng phải đáp ứng hai điều kiện: đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ hai mươi năm trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt nam.


Tình trạng người không quốc tịch, người không rõ quốc tịch nước nào đang thường trú trên lãnh thổ nước ta tương đối nhiều. Trải qua nhiều năm cư trú, làm ăn, sinh sống ổn định trên lãnh thổ nước ta, đến nay họ đã thực sự hoà nhập vào cộng đồng người Việt về mọi mặt đời sống. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, những người này cũng như con cháu của họ chưa được hưởng quy chế công dân Việt Nam, vì chưa được xác định có quốc tịch Việt Nam. Hầu hết họ là những người lao động, trình độ văn hoá thấp, không còn một giấy tờ tuỳ thân nào nên việc nhập quốc tịch cho họ theo thủ tục thông thường không thể thực hiện được. Nếu không giải quyết nhập quốc tịch cho họ thì không chỉ gây khó khăn cho cuộc sống của họ mà còn rất phức tạp trong công tác quản lý của địa phương. Quy định tại Điều 22 là giải pháp để tháo gỡ vướng mắc này trong thực tế.


–         Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 cũng đã dành nhiều điều, khoản quy định về quốc tịch của trẻ em như : trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh có cha mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam. Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam. Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thoả thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con. Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thoả thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam. Điều 17 của Luật cũng quy định, trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam. Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam. Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.


Ngoài ra, LQTVN 2008 đã bổ sung các quy định về trình tư, thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch như : trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam ; xin thôi quốc tịch Việt Nam ; xin trở lại quốc tịch Việt Nam ; tước quốc tịch Việt Nam ; hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam. Đồng thời, Luật này cũng đã luật hóa các quy trình với trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết hồ sơ tại từng cơ quan một cách rõ ràng.




Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:

  • người không có quốc tịch
  • ,

    Không có nhận xét nào:

    Được tạo bởi Blogger.