Các nguyên tắc chung trong tố tụng cạnh tranh
Tố tụng cạnh tranh là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh. Tố tụng cạnh tranh có sự kết hợp giữa tố tụng dân sự và tố tụng hành chính.
Nguyên tắc tố tụng cạnh tranh là những phương châm, những định hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố tụng cạnh tranh được các văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận.
Luật Cạnh tranh là một đạo luật đầu tiên do Quốc hội ban hành đã bao gồm cả các quy phạm về nội dung và quy phạm về hình thức. Là một đạo luật trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, phần quy phạm về hình thức trong Luật Cạnh tranh chịu sự chi phối của các nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật như mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, .v.v.
1.1 Những nguyên tắc cụ thể của tố tụng cạnh tranh
Luật Cạnh tranh cũng quy định những nguyên tắc cụ thể trong tố tụng cạnh tranh sau đây:
a. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng cạnh tranh(Khoản 1, khoản 2 Điều 56 Luật Cạnh tranh.) Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc bao trùm nhất, được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của tố tụng cạnh tranh. Đây cũng đồng thời là nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất trong hoạt động của cơ qan Nhà nước và công dân được ghi nhận ở Điều 12 của Hiến pháp 1992.
Trong tố tụng cạnh tranh, nguyên tắc này đảm bảo cho việc điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh một cách hiệu quả. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được biểu hiện cụ thể trong tố tụng cạnh tranh như sau:
– Cơ quan Quản lý cạnh tranh, Hội đồng Cạnh tranh và những người tham gia tố tụng cạnh tranh khác phải nghiêm chỉnh tuân thủ những quy định của Chương V Luật Cạnh tranh về Điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh.
– Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính, các biện pháp nghiệp vụ trong điều tra và các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh phải theo đúng quy định của pháp luật.
– Tất cả các quyết định của Cơ quan Quản lý cạnh tranh, của Hội đồng Cạnh tranh và Toà án đều phải căn cứ vào quy định của pháp luật cạnh tranh.
b. Nguyên tắc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan và bảo đảm bí mật kinh doanh của doanh nghiệp(Khoản 3 Điều 56 Luật Cạnh tranh.)
Khoản 3 Điều 56 Luật Cạnh tranh quy định: “Trong quá trình tiến hành tố tụng cạnh tranh, điều tra viên, Thủ trưởng Cơ quan Quản lý cạnh tranh, thành viên Hội đồng Cạnh tranh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải giữ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan”. Trong tố tụng cạnh tranh, nguyên tắc này đảm bảo rằng việc áp dụng các biện pháp nhằm đạt được mục tiêu quản lý của Nhà nước không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Cụ thể, nguyên tắc này được thể hiện như sau: – Tách chức năng điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh cho hai cơ quan khác nhau, theo đó Cơ quan quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ điều tra các vụ việc cạnh tranh còn Hội đồng Cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức xử lý và giải quyết khiếu nại. Việc phân tách hai nhiệm vụ nêu trên cho hai cơ quan sẽ góp phần đảm bảo việc điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh được khách quan, trung thực.
– Một trong những nghĩa vụ quan trọng của điều tra viên khi tiến hành tố tụng cạnh tranh là giữ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp.
– Tất cả các giai đoạn trong tố tụng cạnh tranh đều có thời hạn rõ ràng.
– Trong quá trình tiến hành tố tụng cạnh tranh, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân liên quan phải có trách nhiệm bồi thường.
c. Nguyên tắc bảo đảm quyền được luật sư bảo vệ(Điều 66, 67 Luật Cạnh tranh.)
Quyền được luật sư bảo vệ được quy định nhằm bảo đảm cho những người có hành vi vi phạm pháp luật được bày tỏ thái độ trước những lời buộc tội, đưa ra chứng cứ cần thiết, lưu ý các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tình tiết minh oan hoặc giảm nhẹ cho bên bị khiếu nại, bị kiện, bị truy tố theo quy định của pháp luật.
Thực hiện quyền bào chữa của người có hành vi vi phạm pháp luật là điều kiện cần thiết giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý vụ việc đúng người, đúng pháp luật. Tuy nhiên từ trước tới nay, quyền được luật sư bảo vệ thường chỉ được chú trọng trong tố tụng trước toà án. Lần đầu tiên, tố tụng cạnh tranh với tư cách là một loại hình tố tụng hành chính – kinh tế đã thừa nhận nguyên tắc bảo đảm quyền được luật sư bảo vệ. Thể hiện điều này Khoản 1 Điều 66 quy định Bên bị điều tra có quyền uỷ quyền cho luật sư tham gia tố tụng cạnh tranh. Tiếp đó, Khoản 2 Điều 67 quy định khi tham gia tố tụng cạnh tranh, luật sư có trách nhiệm giúp bên mà mình đại diện về mặt pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
d. Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng(Điều 72, 73, 83, 84, 85 Luật Cạnh tranh.) Có thể nói đây là một trong những nguyên tắc rất cơ bản của bất cứ quy trình tố tụng nào và tố tụng cạnh tranh không phải là ngoại lệ. Luật Cạnh tranh đã giành ra 2 điều để quy định về thủ tục từ chối giám định, phiên dịch hoặc đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch và thẩm quyền quyết định việc thay đổi này (Điều 72, 73) và giành ra 2 điều để quy định về thủ tục từ chối tiến hành tố tụng cạnh tranh hoặc đề nghị thay đổi thành viên Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, thư ký phiên điều trần và thẩm quyền quyết định việc thay đổi này (Điều 84, 85). Ngoài ra, Điều 83 Luật Cạnh tranh cũng quy định rõ ràng những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thành viên Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, điều tra viên, thư ký phiên điều trần, người giám định, người phiên dịch như sau:
– Là người thân thích với bên khiếu nại hoặc bên bị điều tra;
– Là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc cạnh tranh;
– Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ không vô tư khi làm nhiệm vụ.
Nguyên tắc này một mặt đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên trong tố tụng, một mặt đảm bảo những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng sẽ là những người vô tư nhất để quá trình tố tụng được diễn ra trung thực, khách quan.
đ. Nguyên tắc thành viên Hội đồng xử lý độc lập và chỉ tuân theo pháp luật(Khoản 1 Điều 80 Luật Cạnh tranh.) Qua tổng kết nguyên lý hoạt động của các cơ quan thực thi Luật Cạnh tranh của các nước trên thế giới, có thể rút ra mấy nguyên tắc sau đây:
– Phải được trao đầy đủ quyền hạn,
– Hoạt động phải đảm bảo tính tin cậy cao,
– Phải đảm bảo việc hoạt động và ra quyết định một cách độc lập,
– Phải đảm bảo tính minh bạch trong thực thi nhiệm vụ.
Để đảm bảo cho Hội đồng cạnh tranh hoạt động và quyết định một cách độc lập, khoản 1 Điều 80 đã quy định “Khi giải quyết vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.”
Nguyên tắc này được hiểu là các thành viên của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh không thể cho bất cứ ai vì bất cứ lý do gì chi phối mà xử lý không đúng pháp luật. Khi xử lý vụ việc cạnh tranh, thành viên Hội đồng xử lý không được chỉ dựa vào quyết định, kết luận của Cơ quan Quản lý cạnh tranh mà phải tự mình nghiên cứu lại toàn bộ hồ sơ vụ việc, kết hợp với những chứng cứ mới thu được tại phiên điều trần để có kết luận riêng của mình đối với từng vấn đề. Nguyên tắc này đảm bảo cho Hội đồng xử lý thực hiện tốt các chức năng xử lý của mình theo quy định của pháp luật, đồng thời đề cao trách nhiệm của thành viên Hội đồng Cạnh tranh.
e. Nguyên tắc Hội đồng xử lý tập thể(Khoản 2 Điều 80 Luật Cạnh tranh.)
Để đảm bảo cho việc xử lý được thận trọng, khách quan chống độc đoán, Khoản 2 Điều 80 Luật Cạnh tranh quy định “Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh được Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh thông qua bằng cách biểu quyết theo đa số, trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định theo phía có ý kiến của Chủ toạ phiên điều trần”. Việc xử lý vụ việc cạnh tranh tại Hội đồng sẽ được tiến hành cụ thể như sau:
Chủ tịch Hội đồng Cạnh tranh thành lập Hội đồng xử lý gồm ít nhất 5 thành viên, trong đó có một thành viên làm Chủ tọa phiên điều trần, để giải quyết một vụ việc cụ thể.
Hội đồng xử lý sẽ tiến hành nghiên cứu hồ sơ, mở phiên điều trần và sau khi nghe những người tham gia phiên điều trần trình bày ý kiến và tranh luận, Hội đồng xử lý sẽ tiến hành thảo luận, bỏ phiếu kiến và quyết định theo đa số.
g. Nguyên tắc xử lý công khai(Điều 104 Luật Cạnh tranh.)
Khoản 1 Điều 104 Luật Cạnh tranh đã ghi nhận nguyên tắc này như sau: “Phiên điều trần được tổ chức công khai. Trường hợp nội dung điều trần có liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật kinh doanh thì phiên điều trần được tổ chức kín”.
Nguyên tắc xử lý công khai các vụ việc cạnh tranh góp phần vào việc giáo dục và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân giám sát hoạt động của Hội đồng Cạnh tranh. Mặt khác nguyên tắc này có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiệm của thành viên Hội đồng xử lý trước cộng đồng doanh nghiệp.
h. Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trong tố tụng cạnh tranh(Điều 107 Luật Cạnh tranh.) Đây là một nguyên tắc rất đặc thù của tố tụng cạnh tranh. Thông thường tố tụng trước cơ quan tư pháp phải qua hai cấp xét xử. Tố tụng cạnh tranh được thực hiện trước cơ quan hành chính chỉ thực hiện một cấp điều trần và xử lý. Tuy nhiên, vì quyết định của Hội đồng Cạnh tranh vẫn là quyết định của cơ quan hành chính nên vẫn thuộc phạm điều chỉnh của Luật khiếu nại tố cáo, tức là các bên liên quan có quyền khiếu nại lên cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn luật định, Bộ trưởng Bộ Thương mại (là cấp trên trực tiếp của Cơ quan Quản lý cạnh tranh) hoặc Hội đồng Cạnh tranh (là cấp trên trực tiếp của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh) sẽ chịu trách nhiệm giải quyết khiếu nại của các bên liên quan. Trường hợp các bên vẫn không nhất trí với quyết định giải quyết khiếu nại, Luật Cạnh tranh quy định các bên liên quan có quyền khởi kiện vụ án hành chính ra Toà án nhân dân cấp tỉnh.
Không có nhận xét nào: