Ads Top

Các hình thức tập trung kinh tế theo luật cạnh tranh



 Việc nhận dạng bản chất của hành vi tập trung kinh tế đòi hỏi phải phân tích khái niệm, các dấu hiệu nhận dạng, các hình thức biểu hiện của chúng ở nhiều góc độ khác nhau.


 1. Hành vi tập trung kinh tế chặt chẽ (hoặc còn gọi là tổ hợp) và tập trung không chặt chẽ (gọi là liên minh lý tài)(Vũ Quốc Thúc, sđd, tr 101.):


Hình thức tập trung chặt chẽ (hình thức Trust) là việc các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chấm dứt tồn tại để hình thành nên một doanh nghiệp thống nhất cả ở phương diện pháp lý lẫn quản trị doanh nghiệp, thường được thực hiện bằng các biện pháp sáp nhập, hợp nhất các doanh nghiệp.


Hình thức tập trung không chặt chẽ là việc các doanh nghiệp tham gia vẫn là những chủ thể độc lập dưới góc độ pháp luật, song chúng chịu sự chi phối bởi các doanh nghiệp khác. Bằng các hành vi mua lại hoặc liên doanh, các doanh nghiệp đã thiết lập được mối quan hệ với nhau, tạo thành một liên minh, một nhóm doanh nghiệp theo kiểu của tập đoàn. Trong đó, bằng quyền của chủ sở hữu, các doanh nghiệp có thể chi phối các doanh nghiệp mà nó có phần vốn góp hoặc cổ phần.


 2. Theo cấp độ kinh doanh, tập trung kinh tế được chia thành tập trung theo chiều ngang, tập trung theo chiều dọc hoặc tập trung hỗn hợp


                a. Tập trung kinh tế theo chiều ngang


Tập trung kinh tế theo chiều ngang là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc liên doanh… của các doanh nghiệp trong một thị trường liên quan (sản phẩm và không gian). Mục tiêu chính của hình thức này là: thực hiện hiệu quả theo quy mô (economies of scale), thực hiện mục tiêu chiến lược thị trường (khống chế thị trường hoặc tạo rào cản thị trường).v.v.


Tập trung theo chiều ngang, có thể tạo ra những tác động tích cực và tiêu cực. Sự gia tăng tập trung theo chiều ngang sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp hành động giữa các doanh nghiệp và từ đó dẫn đến hạn chế cạnh tranh theo giá. Về nguyên tắc, khi số lượng doanh nghiệp hoạt động trên thị trường càng lớn (hoặc mức độ tập trung kinh tế càng nhỏ) thì nguy cơ để xuất hiện một thế lực khống chế trên thị trường càng nhỏ. Chính vì vậy, khi việc tập trung kinh tế tạo ra doanh nghiệp có qui mô vượt qua một mức giới hạn nhất định, việc Nhà nước kiểm soát sự tập trung đó, đánh giá tác động của nó là cực kỳ quan trọng để từ đó có thể quyết định cho phép hay không cho phép các doanh nghiệp này tập trung với nhau.


                b. Tập trung kinh tế theo chiều dọc


Tập trung kinh tế theo chiều dọc là sự hợp nhất, sáp nhập, mua lại hoặc liên doanh giữa các doanh nghiệp có quan hệ người mua – người bán với nhau. Mục tiêu của sự hợp nhất này thường nhằm giảm chi phí giao dịch (transaction cost economies) hoặc thực hiện những mục tiêu chiến lược thị trường (đảm bảo nguồn cung ứng hoặc nguồn tiêu thụ, ngăn cản đối thủ cạnh tranh mở rộng thị trường hoặc dựng rào cản gia nhập thị trường).


Hình thức tập trung này có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đến cạnh tranh sau đây:  – Khi một doanh nghiệp có vị thế rất mạnh ở một khâu nhất định (theo nghĩa thị trường một sản phẩm) trong chu trình kinh doanh thì họ có thể tận dụng quyền lực này để gây sức ép đối với thị trường những người cung ứng hoặc những người tiêu thụ. Thông qua đó, doanh nghiệp này có thể gây khó khăn cho những người cạnh tranh không cùng liên kết với họ;


– Về cơ bản, sự tập trung kinh tế theo chiều dọc của các doanh nghiệp sẽ gây khó khăn cho những người mới gia nhập thị trường bởi nhu cầu tài chính và bí quyết kỹ thuật sẽ cao hơn đối với họ.


                c. Tập trung kinh tế hỗn hợp (conglomerate)


Tập trung kinh tế hỗn hợp là sự hợp nhất, sáp nhập, mua lại, liên doanh của các doanh nghiệp không cùng hoạt động trên một thị trường sản phẩm đồng thời cũng không có mối quan hệ khách hàng với nhau. Mục tiêu của việc hợp nhất này thường là phân bổ rủi ro vào những thị trường khác nhau hoặc từ những lý do chiến lược thị trường của những doanh nghiệp này. Lợi thế quy mô thực sự của loại hình hợp nhất này chỉ có thể xảy ra ở những lĩnh vực như nghiên cứu và triển khai, tổ chức và quản lý.


Lý thuyết về hình thái thị trường độc quyền và độc quyền nhóm (monopoly và oligopoly) không nghiên cứu về ảnh hưởng của hình thức tập trung kiểu này, song thực tiễn cho thấy, chúng cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh sau đây:


–                      Các doanh nghiệp tham gia tập trung dạng conglomerate có lợi thế cạnh tranh trong việc tiết kiệm được chi phí khi có nhu cầu tín dụng, bảo hiểm, quảng cáo và cả vận tải cũng như trên cơ sở tiềm lực hùng mạnh về tài chính, doanh nghiệp hợp nhất này có thể gây những ảnh hưởng đến chính trị, vận động hậu trường,… hoặc trong công tác đối ngoại, quan hệ công cộng (puplic relation).


–                      Thông qua những hoạt động kinh doanh, các giao dịch qua lại các doanh nghiệp hợp nhất dạng conglomerate có thể có điều kiện để đưa ra những hạch toán hỗn hợp, hạn chế rủi ro về chi phí và thị trường, có được những điều kiện kinh doanh rất thuận tiện và vì thế sẽ gây bất lợi cho những đối thủ cạnh tranh nhỏ hơn. Hiện tượng này sẽ làm vô hiệu hoá nguyên lý hiệu quả với tư cách là nguyên tắc chọn lọc của nền kinh tế thị trường.


–                      Về cơ bản, xã hội không bao giờ mong muốn việc hình thành một thế lực quá hùng mạnh trên thị trường, đe doạ sự kiểm soát thông qua cơ chế thị trường cũng như thông qua sự hợp tác giữa Nhà nước và các hiệp hội. Sự tập trung dạng conglomerate này chính là mối đe doạ đó(Lê Viết Thái, “Chuyên đề nghiên cứu về hành vi tập trung kinh tế, đề tài thể chế cạnh tranh tại Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường”, ( Viện nghiên cứu thương mại – Bộ Thương mại,  2005)).


 4.3. Căn cứ vào hình thức biểu hiện, tập trung kinh tế bao gồm các hành vi: sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp(Điều 17 Luật Cạnh tranh.)

  1. a.   Hành vi sáp nhập và hợp nhất giữa các doanh nghiệp

Theo Điều 17 Luật Cạnh tranh, sáp nhập doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ hoặc một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị sáp nhập; hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.


Luật Doanh nghiệp cũng có cách tiếp cận tương tự, song giới hạn hai hành vi trên bằng điều kiện việc sáp nhập, hợp nhất chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp cùng loại với nhau, ví dụ giữa các công ty trách nhiệm hữu hạn với nhau hoặc công ty cổ phần với nhau; Ngoài ra, theo Luật Doanh nghiệp, đối tượng áp dụng hình thức sáp nhập, hợp nhất chỉ là các loại công ty mà không áp dụng đối với doanh nghiệp tư nhân. Luật Đầu tư năm 2005 ghi nhận đầu tư thực hiện việc sáp nhập doanh nghiệp là một hình thức đầu tư trực tiếp(Khoản 6 Điều 21 Luật Đầu tư năm 2005.).


Về bản chất pháp lý, việc sáp nhập và hợp nhất là những giải pháp tổ chức lại doanh nghiệp, theo đó, các doanh nghiệp thay vì hoạt động độc lập có thể tổ chức lại thành một doanh nghiệp duy nhất và có sự chấm dứt hoạt động của các doanh nghiệp bị sáp nhập, bị hợp nhất. Dưới góc độ kinh tế, sáp nhập, hợp nhất là sự cộng dồn nguồn lực kinh tế riêng lẻ của các doanh nghiệp tham gia thành một khối thống nhất trong doanh nghiệp nhận sáp nhập, doanh nghiệp hợp nhất.

  1. b.   Hành vi mua lại doanh nghiệp

Theo Khoản 3 Điều 17 Luật cạnh tranh, mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại.


Quy định trên có thể diễn giải bằng hai nội dung. Về hình thức, mua lại là việc một doanh nghiệp mua tài sản của doanh nghiệp khác. Bên cạnh đó, việc mua tài sản đủ để đem lại cho doanh nghiệp mua lại quyền kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại. Về các nội dung này, có một số vấn đề cần làm rõ:


Thứ nhất, về bản chất pháp lý, mua lại doanh nghiệp là hình thức tập trung kinh tế bằng biện pháp thiết lập quan hệ sở hữu giữa doanh nghiệp mua lại và doanh nghiệp bị mua lại.


Việc mua lại không là quá trình thống nhất về tổ chức giữa hai doanh nghiệp nói trên. Sau khi mua lại, doanh nghiệp nắm quyền sở hữu có thể thực hiện việc sáp nhập hoặc không. Nếu thực hiện việc sáp nhập thì sự thống nhất về tổ chức là kết quả của hoạt động sáp nhập và việc mua lại chỉ là tiền đề để có được quyết định sáp nhập. Dưới góc độ cạnh tranh, quan hệ sở hữu tạo nên nhóm doanh nghiệp hoặc một tập đoàn (với số lượng doanh nghiệp bị mua lại đủ lớn). Một khi các doanh nghiệp tham gia đang hoạt động trên cùng thị trường liên quan thì việc mua lại đã làm cho quan hệ cạnh tranh giữa họ không còn tồn tại.


Thứ hai, về quyền chi phối hoặc kiểm soát doanh nghiệp bị mua lại, theo pháp luật cạnh tranh, quyền kiểm soát hoặc chi phối được hiểu là trường hợp doanh nghiệp mua lại dành được quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ chiếm được trên 50% quyền bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc ở mức mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ để doanh nghiệp mua lại chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp bị kiểm soát nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị kiểm soát()Điều 34 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.).


Luật Doanh nghiệp năm 2005 không trực tiếp sử dụng thuật ngữ quyền chi phối hoặc kiểm soát doanh nghiệp khác mà sử dụng quan hệ mẹ con giữa các công ty để diễn tả mối quan hệ sở hữu được xác lập từ việc mua lại hay góp vốn. Theo đó, một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:


–  Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành của công ty đó;


–  Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc của công ty đó;


–  Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó(Khoản 15 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005. )


Về ý nghĩa pháp lý, dường như quy định trong hai văn bản trên là tương đồng, song về căn cứ xác định và giá trị ứng dụng lại có những khác biệt đáng kể. Luật Doanh nghiệp cơ bản dựa trên mức vốn sở hữu hoặc giá trị quyền quyết định đến bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp trong khi luật cạnh tranh đã quy đổi mức sở hữu thành giá trị của quyền biểu quyết trong bộ máy quản lý để xác định. Mặt khác, Luật Doanh nghiệp còn sử dụng quyền quyết định đến việc sửa đổi, bổ sung điều lệ làm một trong những trường hợp xác lập quan hệ mẹ con, trong khi luật cạnh tranh sử dụng quyền chi phối các chính sách tài chính, hoạt động của doanh nghiệp bị mua lại làm căn cứ xác định. Cách tiếp cận của luật doanh nghiệp có vẻ dễ hiểu và dễ xác định dựa trên các quy định về thẩm quyền của Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, Đại hội đồng cổ đông và định rõ tỷ lệ vốn đại diện cần có để quyết định về việc sửa đổi, bổ sung điều lệ được thông qua137.

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.