Ads Top

Các biện pháp cho vay có bảo đảm bằng tài sản


 


Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là hình thức bảo đảm mà ngân hàng áp dụng đối với khách hàng vay vốn, trong đó ngân hàng đóng vai trò chủ nợ được hưởng một số quyền hạn nhất định đối với tài sản của khách hàng là con nợ. Như vậy, việc bảo đảm tiền vay bằng tài sản giúp cho ngân hàng tránh được rủi ro mất hoàn toàn vốn, đồng thời đem lại cho ngân hàng quyền ưu tiên khi phát mại tài sản so với các chủ nợ khác của khách hàng nếu khách hàng vay không có khả năng trả được các khoản nợ đã vay. Thực tiễn cho thấy, không phải bất kỳ tài sản nào cũng có thể dùng làm bảo đảm tiền vay được ngân hàng chấp nhận. Theo pháp luật về bảo đảm tiền vay, tài sản dùng để bảo đảm tiền vay phải đáp ứng đủ bốn điều kiện sau:

  • Thuộc quyền sở hữu, quyền quản lý, sử dụng của khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh.

Để chứng minh được điều kiện này, khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh phải xuất trình Giấy chứng nhận sở hữu, quyền quản lý sử dụng tài sản. Trường hợp thế chấp quyền sử dùng đất, khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được thế chấp theo quy định của pháp luật về đất đai. Đối với tài sản mà Nhà nước giao cho doanh nghiệp nhà nước quản lý, sử dụng, doanh nghiệp phải chứng minh được quyền được cầm cố thế chấp hoặc bảo lãnh tài sản đó.

  • Thuộc tài sản được phép giao dịch.

Tài sản được phép giao dịch được hiều là các tài sản mà pháp luật cho phép hoặc không cấm mua, bán, tặng, cho, chuyển nhượng, chuyển đổi, cầm cố thế chấp, bảo lãnh và các giao dịch khác.

  • Không có tranh chấp tại thời điểm ký hợp đồng bảo đảm.

Ngân hàng yêu cầu khách hàng vay, bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản về việc tài sản không có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, quản lý tài sản đó và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về cam kết của mình.

  • Phải mua bảo hiểm nếu pháp luật có quy định.

Đối với các tài sản mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm, thì TCTD yêu cầu khách hàng xuất trình hợp đồng mua bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm.


v Theo nghị định 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay, có các hình thức bảo đảm tiền vay bằng tài sản dưới đây.


1.1 Bảo đảm bằng tài sản cầm cố.


a. Khái niệm cầm cố.


Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam ban hành ngày 14/6/2005 (sau đây gọi tắt là bộ luật Dân sự năm 2005), điều 326 định nghĩa: “cầm cố là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, bản chất của cầm cố là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo đó trong quan hệ tín dụng ngân hàng, cầm cố tài sản được hiểu là việc khách hàng (bên vay vốn) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình giao cho tổ chức tín dụng (bên cho vay) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ.


    b.Đối tượng của cầm cố.


Trước đây, trên cơ sở của Bộ luật Dân sự năm 1995, tại điều 2 của Quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng ban hành kèm theo quyết định số 217/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN Việt Nam ngày 17/8/1996 quy định: “cầm cố tài sản vay vốn ngân hàng là việc bên vay vốn có nghĩa vụ giao tài sản là động sản thuộc sở hữu của mình cho TCTD để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ bao gồm nợ gốc, lãi và tiền nộp phạt nếu có, nếu tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì các bên có thể thỏa thuận bên cầm cố vẫn giữ tài sản cầm cố và giao bản gốc giấy tờ quyền sở hữu cho bên nhận cầm cố giữ”. Theo đó, đối tượng của cầm cố chỉ có thể là động sản, mở rộng hơn so với các quy định trước đây là quyền tài sản (trừ quyền sử dụng đất là đối tượng của thế chấp). Nhưng điều 15 nghị định 165/1999/ NĐ-CP về giao dịch bảo đảm lại cho phép bên cầm cố có thể được giữ các tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Như vậy cùng một vấn đề văn bản dưới luật lại mâu thuẫn với văn bản luật, do đó gây rất nhiều khó khăn cho ngân hàng và khách hàng khi thực hiện việc vay vốn có tài sản cầm cố. Sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 2005, đã tháo gỡ được vướng mắc trên để tạo điều kiện cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vay vốn ngân hàng phát triển sản xuất. Bộ luật Dân sự năm 2005 đã không định nghĩa bất động sản như Bộ luật Dân sự năm 1995 mà quy định mang tính liệt kê, theo đó xác định một số tài sản là bất động sản (như nhà ở, công trình xây dựng, đất đai..) và dùng phương pháp loại trừ để định nghĩa động sản. Đồng thời phân biệt tài sản cầm cố với tài sản thế chấp bằng tiêu chí dịch chuyển hoặc không dịch chuyển tài sản từ bên có nghĩa vụ sang bên có quyền khi bên có nghĩa vụ dùng tài sản đó để cầm cố, thế chấp; chứ không phân biệt bằng động sản hay bất động sản như quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995.


Tài sản cầm cố, theo thông tư số 07/2003/TT-NHNN của NHNN Việt Nam ngày 19/5/2003 về hướng dẫn một số quy định về bảo đảm tiền vay của các TCTD bao gồm:

  • Máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá quý, và các vật liệu có giá trị khác.
  • Ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư trên tài khoản tiền gửi tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán bằn tiền Việt Nam và ngoại tệ.
  • Trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, thương phiếu, các giấy tờ trị giá được bằng tiền. Riêng đối với cổ phiếu của TCTD phát hành, khách hàng vay không được cầm cố ở chính TCTD đó.
  • Quyền đòi tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền được nhận só tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác phát sinh từ hợp đồng hoặc từ các căn cứ pháp lý khác.
  • Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, kể cả trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
  • Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật.
  • Tàu biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quy định của Bộ luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được cầm cố.
  • Tài sản hình thành trong tương lai là động sản hình thành sau thời điểm ký kết giao dịch cầm cố và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố như hoa lợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, các động sản khác mà bên cầm cố có quyền nhận.
  • Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.

Lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố cũng thuộc tài sản cầm cố, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định; trường hợp tài sản cầm cố được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản cầm cố.


c.Chủ thể trong quan hệ cầm cố.


Chủ thể trong quan hệ cầm cố là chủ thể của quan hệ tín dụng. Quan hệ cầm cố có thể coi là quan hệ phụ, hình thành khi phát sinh quan hệ tín dụng. Theo thông tư số 07/2003/TT-NHNN và Điều 1.4 của nghị định 85/2002/NĐ-CP của chính phủ ngày 25/10/2002 về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các TCTD (sau đây gọi tắt là nghị định số 85/2002/NĐ-CP) quy định chủ thể tham gia vào quan hệ cầm cố gồm:


– Bên cầm cố (bên phải dùng tài sản của mình giao cho bên nhận cầm cố để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ) là khách hàng vay vốn bao gồm các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, pháp nhân Việt Nam và cá nhân, pháp nhân nước ngoài có đủ điều kiện vay vốn tại TCTD theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.


– Bên nhận cầm cố là các TCTD bao gồm TCTD Nhà nước, TCTD cổ phần, TCTD hợp tác (ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhân dân, hợp tác xã tín dụng), TCTD liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tai Việt Nam, TCTD phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.


d.Nội dung của quan hệ cầm cố.


Nội dung của quan hệ cầm cố trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, là việc bên cầm cố (bên đi vay) giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố (TCTD cho vay) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong bất kỳ mối quan hệ nào các bên cũng có quyền và nghĩa vụ nhất định. Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 và thông tư số 07/2003/TT-NHNN, các chủ thể trong quan hệ cầm cố có các quyền và nghĩa vụ sau:


* Quyền của khách hàng vay vốn (Điều 331, Bộ luật Dân sự năm 2005):


– Yêu cầu TCTD (bên nhận cầm cố) đình chỉ việc sử dụng tài sản cầm cố, nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.


–  Được bán tài sản cầm cố nếu được TCTD đồng ý.


–  Được thay thế tài sản cầm cố bằng một tài sản khác nếu có thỏa thuận với TCTD.


– Yêu cầu TCTD giữ tài sản cầm cố trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.


– Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố.


* Nghĩa vụ của khách hàng vay (Điều 330, Bộ luật Dân sự năm 2005):


– Giao tài sản cầm cố cho TCTD theo đúng thỏa thuận.


– Báo cho TCTD về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố nếu có, trong trường hợp không thông báo thì TCTD có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố.


– Thanh toán cho TCTD biết chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.


* Quyền của tổ chức tín dụng (Điều 333, Bộ luật Dân sự năm 2005):


–  Được yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó.


– Được khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu các bên có thỏa thuận.


– Yêu cầu xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ.


– TCTD được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho khách hàng vay.


* Nghĩa vụ của tổ chức tín dụng (Điều332, Bộ luật Dân sự năm 2005):


– Bảo quản giữ gìn tài sản cầm cố, nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.


– Không được bán, trao đổi tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố, không được đem tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.


– Không được khai thác công dụng hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu không được bên cầm cố đồng ý.


– Trả lại tài sản cầm cố cho khách hàng vay khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.


* Trong trường hợp có bên thứ ba tham gia vào quan hệ cầm cố thì:


Bên thứ ba giữ tài sản cầm cố có quyền: Nhận thù lao và thanh toán chi phí giữ gìn, bảo quản tài sản theo thỏa thuận của mỗi bên. Được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp lợi tức vẫn thuộc tài sản cầm cố.


Nghĩa vụ của bên thứ ba giữ tài sản cầm cố như nghĩa vụ của TCTD giữ tài sản cầm cố theo quy định của thông tư số 07/2003/TT-NHNN.


đ. Hình thức cầm cố tài sản


Theo quy định tại điều 327 Bộ luật Dân sự năm 2005 và mục 1 chương II của thông tư số 07/2003/TT-NHNN: “Việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng tín dụng”. Theo thông tư này, hợp đồng cầm cố tài sản có các nội dung chủ yếu sau:


–         Tên và địa chỉ các bên, ngày tháng năm.


–         Nghĩa vụ đươc bảo đảm.


–         Mô tả tài sản cầm cố, giá trị của tài sản cầm cố, riêng tài sản cầm cố là tài sản hình thành trong tương lai có thể mô tả khái quát về tài sản.


–         Bên giữ tài sản, giấy tờ của tài sảm cầm cố.


–         Quyền và nghĩa vụ của các bên.


–         Các thỏa thuận về trường hợp xử lý và phương thức xử lý tài sản cầm cố.


–         Các thỏa thuận khác.


1.2 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp


a. Khái niệm thế chấp tài sản.


Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay là một biện pháp bảo đảm tiền vay mà các TCTD thường áp dụng. Theo quy định của điều 342, Bộ luật Dân sự năm 2005: “Thế chấp tài sản là viêc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”. Trong trường hợp thế chấp toàn bộ hoặc một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp do khách hàng vay giữ, các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.


Trong quan hệ tín dụng ngân hàng khách hàng vay vốn có thể dùng tài sản đã có thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo cho khoản vay. Bên cạnh đó theo quy định của pháp luật khách hàng vay cũng có thể dùng chính tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo cho khoản vay, nói cách khác trong trường hợp này tài sản thế chấp được hình thành từ việc sử dụng khoản tiền vay và hợp đồng thế chấp được ký khi tài sản đã hình thành.


Nếu như biện pháp thế chấp tài sản thông thường có thể được áp dụng để bảo đảm cả nghĩa vụ hợp đồng và nghĩa vụ ngoài hợp đồng thì bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay chỉ đươc áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng-nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay theo hợp đồng tín dụng giữa họ với TCTD. Vì vậy, có thể nói bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay là hợp đồng phụ đặt ra bên cạnh hợp đồng chính-hợp đồng tín dụng để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng chính.



b. Chủ thể thế chấp tài sản.


Cũng như các quan hệ thế chấp khác, chủ thể của giao dịch bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay bao gồm bên thế chấp-bên bảo đảm (bên phải dùng tài sản của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ) và bên nhận thế chấp-bên được bảo đảm.


– Bên thế chấp là khách hàng vay bao gồm cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, pháp nhân Việt Nam và cá nhân, pháp nhân nước ngoài có đủ điều kiện vay vốn tại TCTD theo quy định của NHNN Việt Nam (khoản 9 điều 2 nghị định số 178/1999/ NĐ-CP và khoản 4 điều 1 nghị định 85/2002/NĐ-CP).


– Bên nhận thế chấp là các TCTD đã cấp tín dụng dưới hình thức cho vay đối với khách hàng vay theo quy định của luật các TCTD.


c. Đối tượng của thế chấp.


Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995, tài sản dùng để thế chấp phải là bất động sản thuộc sở hữu của khách hàng vay. Đây là một quy định quá cứng nhắc, gây khó khăn và làm hạn chế khả năng được vay vốn của khách hàng, quyền được cho vay của TCTD. Với sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 2005, đã giải quyết được vướng mắc trên, theo đó tài sản dùng để thế chấp không còn bó hẹp ở bất động sản nữa mà thay vào đó là mọi tài sản kể cả động sản và bất động sản được phép giao dịch theo quy định của pháp luật đều có thể dùng làm tài sản thế chấp. Theo quy định tại mục 2.2 chương I thông tư số 07/2003/TT-NHNN, tài sản thế chấp bao gồm:


– Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất.


– Giá trị quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế chấp.


– Tàu biển theo quy định của bộ luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quy định của luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được thế chấp.


– Tài sản hình thành trong tương lai là bất động sản hình thành sau thời điểm ký kết giao dịch thế chấp và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp như hoa lợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, công trình xây dựng, các bất động sản khác mà bên thế chấp có quyền nhận.


– Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.


d. Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong thế chấp tài sản.


Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay đối với TCTD, bao gồm tiền vay, lãi vay, lãi phạt quá hạn, các khoản phí nếu có được ghi trong hợp đồng tín dụng mà khách hàng vay phải trả theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nghĩa vụ trả lãi vay, lãi phạt quá hạn các khoản phí nếu có không thuộc phạm vi bảo đảm nghĩa vụ nếu các bên có thỏa thuận. Nghĩa vụ trả nợ ghi trong hợp đồng tín dụng có thể được bảo đảm bằng một hoặc nhiều tài sản thế chấp của khách vay với điều kiện tổng giá trị các tài sản thế chấp phải lớn hơn nghĩa vụ trả nợ được bảo đảm (điều 9 nghị định số 178/1999/NĐ-CP và điều 347 Bộ luật Dân sự năm 2005).


Một tài sản của khách hàng vay có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ trả nợ tại một hoặc nhiều TCTD, với điều kiện giá trị tài sản thế chấp được xác định tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp phải lớn hơn các nghĩa vụ trả nợ được bảo đảm trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (điều 1.13 Nghi định 85/2002/NĐ-CP).


đ. Nội dung của quan hệ thế chấp bảo đảm tiền vay.


Nội dung của quan hệ thế chấp để bảo đảm tiền vay được cấu thành bởi hai quan hệ: thứ nhất là quan hệ giữa TCTD và khách hàng vay liên quan đến tài sản thế chấp; thứ hai là quan hệ trực tiếp giữa TCTD đối với tài sản thế chấp. Đây là hai mối quan hệ đan xen với nhau và được thể hiên cụ thể như sau:


đ.1 Đối với bên thế chấp:


v Trường hợp tài sản thế chấp do khách hàng giữ.


* Khách hàng có nghĩa vụ (điều 348 Bộ luật dân sự năm 2005):


– Giao giấy tờ về tài sản thế chấp cho TCTD.


– Bảo quản giữ gìn tài sản thế chấp.


– Áp dụng các biện pháp cần thiết để tránh sự gây thiệt hại, làm giảm giá trị tài sản bảo đảm.


– Thông báo cho TCTD về quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp nếu có. Trong trường hợp không thông báo cho TCTD, thì TCTD có quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp.


– Không được bán, trao đổi tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc được TCTD đồng ý.


* Nếu các bên không có thỏa thuận khác, khách hàng vay giữ tài sản thế chấp có quyền (Điều 349 bộ luật Dân sự năm 2005):


– Được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng thuộc tài sản thế chấp theo thỏa thuận.


– Được đầu tư để làm tăng giá trị của tài sản thế chấp.


– Được bán, thay thế tài sản thế chấp nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh.


– Được bán trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh nếu được TCTD đồng ý.


– Được cho thuê, mượn tài sản nhưng phải thông báo cho bên thuê mượn biết về việc tài sản cho thuê, mượn đang được dùng để thế chấp và phải thông báo cho TCTD biết.


– Nhận lại tài sản thế chấp do người thứ ba giữ, khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.


v Trường hợp người thứ ba là bên giữ tài sản thế chấp.


Bên thứ ba có nghĩa vụ bảo quản giữ gìn tài sản thế chấp như tài sản của chính mình, nếu làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị thì phải bồi thường. Đồng thời người thứ ba giữ tài sản thế chấp được hưởng chi phí giữ tài sản thế chấp; được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp và một số quyền khác như trường hợp khách hàng vay giữ tài sản thế chấp nếu các bên có thỏa thuận.


đ.2 Bên nhận thế chấp tài sản-tổ chức tín dụng.


* Quyền của TCTD (điều 351, Bộ luật Dân sự năm 2005):


– Yêu cầu bên thuê, bên mượn tài sản thế chấp phải chấm dứt việc sử dụng tài sản thế chấp, nếu việc sử dụng làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản đó.


– Được xem xét, kiểm tra trực tiếp tài sản thế chấp, nhưng không được cản trở hoặc gây khó khăn cho việc sử dụng khai thác tài sản thế chấp.


– Yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp.


– Yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản, giá trị tài sản trong trường hợp có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản do việc khai thác, sử dụng.


– Yêu cầu bên thế chấp (khách hàng vay) hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.


– Giám sát, kiểm tra quá trình hình thành tài sản trong trường hợp nhận thế chấp bằng tài sản hình thành trong tương lai.


– Yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định và được ưu tiên thanh toán.


* Nghĩa vụ của TCTD.


– Trong trừờng hợp các bên thỏa thuận bên nhận thế chấp (TCTD) giữ giấy tờ về tài sản thế chấp thì khi chấm dứt thế chấp phải hoàn trả cho bên thế chấp (khách hàng vay) giấy tờ về tài sản thế chấp.


-Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm xóa đăng ký trong các trường hợp nghĩa vụ bảo đảm chấm dứt theo quy định.


e. Hình thức thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay 


Theo quy định tại điều 343 bộ luật dân sự năm 2005 và mục 1 chương II thông tư số 07/2003/TT­-NHNN, việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính-hợp đồng tín dụng. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản thế chấp phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký.


Nội dung chủ yếu của hợp đồng thế chấp tài sản theo quy định tại mục 1.1 chương II thông tư số 07/2003/TT-NHNN tương tự như các nội dung chủ yếu của hợp đồng cầm cố tài sản như đã trình bày ở trên.


1.2 Bảo đảm tiền vay theo phương thức bảo lãnh.


a. Khái niệm bảo lãnh.


Trong nhiều trường hợp các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn ở các TCTD nhưng do chưa có uy tín, cũng không có tài sản bảo đảm nên họ khó có khả năng được ngân hàng cấp vốn cho vay. Lúc này bảo lãnh xuất hiện vừa có tác dụng là biện pháp đảm bảo nghĩa vụ vừa là biện pháp tạo cơ hội tín dụng cho người có nhu cầu vay vốn. Nếu bên khách hàng có nhu cầu vay vốn tìm được cho mình người bảo lãnh có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh và nếu đựợc TCTD chấp nhận thì sẽ tạo cơ hội cho bên có nhu cầu về vốn được vay vốn và về phía ngân hàng an toàn tín dụng vẫn bảo đảm khi cho vay.


Biện pháp bảo lãnh được định nghĩa khá rõ trong Bộ luật Dân sự năm 2005: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” (Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2005). Bảo lãnh thực chất cũng là một loại hợp đồng cụ thể mà đối tượng trước hết của nó là sự cam kết bằng uy tín để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Điều này có nghĩa là khi nhận bảo lãnh, người nhận bảo lãnh cũng rất quan tâm đến nhân thân người bảo lãnh cũng như khả năng tài sản của người bảo lãnh, vì trong trường hợp nghĩa vụ tài sản không được người được bảo lãnh thực hiện, thực hiện không đúng, người bảo lãnh sẽ phải thực hiện thay bằng tài sản của mình.


Bảo lãnh trong hoạt động ngân hàng theo quy định tại khoản 3 điều 1 nghị định số 85/2002/NĐ-CP: “Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba (gọi là bên bảo lãnh) là việc bên bảo lãnh cam kết với TCTC về việc sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu, giá trị quyền sử dụng đất của mình, đối với doanh nghiệp nhà nước là tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng vay, nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng vay thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ”. Như vậy bản chất của bảo lãnh trong hoạt động ngân hàng chính là việc bên bảo lãnh dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay cho TCTD trong các trường hợp:


– Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ (khách hàng vay vốn) không thực hiện nghĩa vụ.


– Hoặc đến hạn mà người có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ nhưng không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ theo thỏa thuận.


b. Đối tượng của bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba


Theo điều 361 bộ luật dân sự năm 2005 đối tượng của bảo lãnh là cam kết của bên bảo lãnh. Cam kết này được bảo đảm bằng tài sản thuộc sở hữu của bên bảo lãnh. Khi tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng có áp dụng các biện pháp đảm bảo bằng tài sản, TCTD sẽ thẩm tra tài sản xem bảo lãnh có thuộc sở hữu hợp pháp của bên bảo lãnh hay không. Điều này đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải rất cẩn trọng trong việc thẩm định quyền sở hữu đối với tài sản bảo lãnh của bên bảo lãnh vì đối với một số tài sản không đăng ký quyền sở hữu thì việc chứng minh đối với tài sản đó là rất khó khăn.


Bên cạnh đó pháp luật còn quy định những tài sản thuộc sở hữu chung muốn đem bảo lãnh thì phải được sự đồng ý của tất cả các đồng sở hữu chủ và ủy quyền bằng văn bản cho người đại diện ký kết hợp đồng bảo đảm.


Nhìn chung tài sản dùng để bảo lãnh có thể là các tài sản có thể thế chấp, cầm cố nó có đặc trưng của tài sản bảo đảm là được phép giao dịch và không có tranh chấp. Ngoài ra đối với một số tài sản mà pháp luật quy định phải bảo hiểm thì bên bảo lãnh bắt buộc phải mua bảo hiểm tài sản trong thời hạn bảo đảm tiền vay, ví dụ như máy bay, tàu biển…


c. Chủ thể trong quan hệ bảo lãnh.


Theo khái niệm về bảo lãnh của Bộ luật Dân sự năm 2005, thì chủ thể tham gia quan hệ bảo lãnh bao gồm ba bên:


– Bên bảo lãnh là các tổ chức cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.


– Bên nhận bảo lãnh là các tổ chức tín dụng.


– Bên được bảo lãnh là khách hàng vay vốn.


* Để bảo đảm an toàn cho khoản vay, pháp luật trao quyền chủ động cho TCTD được quyết định lựa chọn bên thứ ba bảo lãnh bằng tài sản cho khách hàng vay (khoản 5 điều 1 nghị định 85/2002/NĐ-CP). Tuy nhiên theo mục 4 chương I của thông tư 07/2003/TT-NHNN thì TCTD lựa chọn bên bảo lãnh khi có đủ các điều kiện sau:


– Có năng lực pháp luật dân sự đối với bên bảo lãnh là pháp nhân, còn nếu bên bảo lãnh là cá nhân thì phải có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự. Đối với pháp nhân phải có người đại diện đủ thẩm quyền để thay mặt pháp nhân ký kêt hợp đồng.


– Bên bảo lãnh phải có khả năng về vốn, tài sản để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.


– Bên bảo lãnh phải chịu trách nhiệm trước TCTD về khoản vay của khách hàng mà mình đứng ra bảo lãnh.Trường hợp nhiều người cùng đứng ra bảo lãnh cho một khoản nợ thì tất cả những người bảo lãnh đương nhiên phải chịu trách nhiệm đối với TCTD (Điều 365 Bộ luật Dân sự năm 2005).


* Trong quan hệ bảo lãnh bằng tài sản vay vốn ngân hàng, TCTD và bên bảo lãnh có thể thỏa thuận để cho bên bảo lãnh cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa bảo lãnh. Về nguyên tắc, TCTD sẽ cấp tín dụng cho khách hàng trên cơ sở sự bảo lãnh của người thứ ba nếu như người bảo lãnh đáp ứng đủ các điều kiện trên. Tuy nhiên có một vài trường hợp TCTD không được đồng ý sự bảo lãnh cho khách hàng vay của một số chủ thể, đó là:


– Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) của TCTD cho vay.


– Người thẩm định xét duyệt cho vay của TCTD cho vay.


– Bố, mẹ, vợ chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) của TCTD cho vay.


* Trường hợp, bên bảo lãnh là ngân hàng thì thực hiện theo quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN của NHNN Việt Nam ban hành ngày 26/6/2006. Theo khoản 1 Điều 5 của quy chế này, bảo lãnh vay vốn là cam kết của TCTD với bên nhận bảo lãnh, về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng được TCTD bảo lãnh là các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài. TCTD không được bảo lãnh đối với các trường hợp đã nêu trên.


d. Nội dung của quan hệ bảo lãnh.


Theo bộ luật dân sự thì nội dung của bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng tín dụng là việc bên bảo lãnh dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm cho việc trả nợ của bên bảo lãnh đối với TCTD. Trong bảo lãnh tồn tại hai quan hệ, đó là quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh và quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh. Trong đó, bên được bảo lãnh không phải là bên đóng vai trò thiết lập hợp đồng bảo lãnh mà là bên hưởng lợi từ hợp đồng bảo lãnh. Do vậy, khi xem xét quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bảo lãnh, thực chất chúng ta chỉ đề cập tới quyền và nghĩa vụ của hai chủ thể: bên nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh.


Bộ luật Dân sự năm 2005 và thông tư số 07/2003/TT-NHNN quy định các chủ thể trong quan hệ bảo lãnh có quyền và nghĩa vụ sau:


* Quyền của bên bảo lãnh (bên thứ ba).


– Trong trường hợp bên bảo lãnh cầm cố, thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, thì có các quyền như của khách hàng vay khi cầm cố, thế chấp tài sản.


– Bên bảo lãnh có quyền phản đối việc tổ chức tín dụng cho vay yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng khi nghĩa vụ chưa đến hạn.


– Bên bảo lãnh có quyền không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nếu bên nhận bảo lãnh (TCTD cho vay) có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh.


* Nghĩa vụ của bên bảo lãnh:


– Trả nợ thay cho khách hàng vay như đã cam kết, nếu đến hạn mà khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ.


– Trong trường hợp bên bảo lãnh cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì có các nghĩa vụ khác như nghĩa vụ của khách hàng vay khi cầm cố, thế chấp tài sản.


* Quyền của tổ chức tín dụng nhận bảo lãnh:


– Yêu cầu bên bảo lãnh trả nợ thay cho khách hàng như đã cam kết, nếu đến hạn mà khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ.


– Trong trường hợp bên bảo lãnh cầm cố, thế chấp tài sản để bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì có các quyền như của TCTD khi nhận cầm cố, thế chấp tài sản.


* Nghĩa vụ của tổ chức tín dụng nhận bảo lãnh.


Trong trường hợp bên bảo lãnh cầm cố thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì có các nghĩa vụ như nghĩa vụ của tổ chức tín dụng nhận cầm cố thế chấp tài sản.


* Trong trường hợp tổ chức tín dụng là bên bảo lãnh, quyền và nghĩa vụ các bên theo quy định tai điều 23, điều 24, điều 25, điều 26 của Quyết định 26/2006/QĐ-NHNN về quy chế bảo lãnh ngân hàng.


đ .Hình thức bảo lãnh vay vốn.


Việc bảo lãnh nói chung và trong vay vốn ngân hàng nói riêng, bắt buộc phải được lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính-hợp đồng tín dụng (điều 362 Bộ luật Dân sự năm 2005, điều 10 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP). Trên thực tế việc ký kết hợp đồng bảo lãnh có thể được thực hiện vào các thời điểm khác nhau:


– Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng.


– Trước khi ký hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, đây là trường hợp phổ biến nhất ở Viêt Nam.


– Đồng thời cùng môt lúc khi ký kết hợp đồng tín dụng.


* Theo khoản 1.2 chương II của Thông tư số 07/2003/TT-NHNN hợp đồng bảo lãnh có nội dung chủ yếu sau:


– Tên và địa chỉ các bên, ngày tháng năm.


– Cam kết của bên bảo lãnh về viêc thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh.


– Nghĩa vụ được bảo lãnh, phạt vi phạm bảo lãnh và bên được bảo lãnh.


– Tài sản bảo lãnh, giá trị tài sản bảo lãnh, trừ trường hợp bên bảo lãnh là TCTD và cơ quan quản lý ngân sách Nhà nước, riêng tài sản bảo lãnh là tài sản hình thành trong tương lai có thể mô tả khái quát về tài sản.


– Quyền và nghĩa vụ của bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh


– Các thỏa thuận về trường hợp xử lý và phương thức xử lý tài sản bảo lãnh.


– Các thỏa thuân khác.


* Trong trường hợp TCTD là bên bảo lãnh theo điều 11 quyết định 26/2006/QĐ-NHNN hình thức bảo lãnh phải đươc lập thành văn bản bao gồm các hình thức: hợp đồng bảo lãnh, thư bảo lãnh, các hình thức khác pháp luật không cấm phù hợp với thông lệ quốc tế. Nội dung của bảo lãnh ngân hàng bao gồm:


– Tên địa chỉ của TCTD, khách hàng bên nhận bảo lãnh.


– Ngày phát hành bảo lãnh, số tiền bảo lãnh.


– Hình thức và các điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.


– Thời hạn bảo lãnh.


– Quyền và nghĩa vụ của các bên.


– Giải quyết tranh chấp phát sinh.


– Các thỏa thuận khác.


1.4 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay.


a. Khái niệm


Khoản 5 điều 2 nghị định 178/1999/NĐ-CP thì “bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối vơi TCTD”.


Theo khái niệm trên, tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng tài sản bảo đảm chưa hình thành hay hợp đồng bảo đảm chỉ được ký khi tài sản đã hình thành. Vì trong thời gian tài sản bảo đảm chưa hình thành tính rủi ro cho hoạt động tín dụng là rất cao. Do vậy Nghị định 85/2002/NĐ-CP quy định viêc bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay được áp dụng trong các trường hợp:


– Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho TCTD cho vay đối với khách hàng vay và đối tượng cho vay trong một số trường hợp cụ thể.


– TCTD xem xét, quyết định việc bảo đảm tiền vay nếu khách hàng vay và tài sản hình thành từ vốn vay đáp ứng đủ các điều kiện quy định của pháp luật.


b. Đối tượng của quan hệ bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay :


Trong quan hệ bảo đảm tiền vay bằng phương thức này, đối tượng của quan hệ chính là tài sản hình thành từ vốn vay. Khoản 4 điều 2 nghị định 178/1999/NĐ-CP định nghĩa “tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản của khách hàng vay mà giá trị tài sản được tạo nên bởi một phần hoặc toàn bộ khoản vay của TCTD”.


* Điều kiện đối với tài sản hình thành từ vốn vay được quy định tại khoản 17 điều 1 Nghị định 85/2002/NĐ-CP:


– Tài sản hình thành từ vốn vay dùng làm bảo đảm tiền vay phải xác định được quyền sở hữu hoặc quyền quản lý, sử dụng; xác định được giá trị, số lượng và được phép giao dịch. Đối với tài sản hình thành từ vốn vay là vật tư hàng hóa, thì ngoài việc có đủ các điều kiện này, TCTD phải có khả năng quản lý, giám sát tài sản bảo đảm.


– Đối với tài sản mà pháp luật có quy định phải mua bảo hiểm thì khách hàng vay phải cam kết mua bảo hiểm trong suất thời hạn vay vốn khi tài sản đã được hình thành đưa vào sử dụng.


c. Chủ thể trong quan hệ bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay


Theo định nghĩa trên, hợp đồng bảo đảm tiền vay trong trường hợp này chỉ ký kết khi hợp đồng tín dụng đã hoàn tất, do vậy chủ thể trong hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay chính là chủ thể của hợp đồng tín dụng trước đó, bao gồm:


– Bên nhận tài sản bảo đảm hay bên cho vay chính là TCTD.


– Bên giao tài sản bảo đảm hay khách hàng vay là cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.


* Điều kiện đối khách hàng vay (khoản 17 điều 1 nghị định 85/2002/NĐ-CP).


– Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.


– Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả.


– Có mức vốn tự có tham gia vào dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh, đời sống và giá trị tài sản bảo đảm tiền vay bằng các biện pháp cầm cố, thế chấp tối thiểu bằng 15% vốn đầu tư của dự án.


d. Nội dung của quan hệ bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay


Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay chính là môt biện pháp bảo đảm mà TCTD áp dụng trong hoạt động ngân hàng ở một số trường hợp cụ thể. Theo đó khách hàng vay vốn dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ cho TCTD, trên cơ sở cầm cố, thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay.


Quyền và nghĩa vụ các chủ thể trong quan hệ cầm cố, thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay được quy định cụ thể trong nghị định số 178/1999 /NĐ-CP.


* Quyền của khách hàng vay:


– Được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lơi tức từ tài sản, trừ trường hợp hoa lợi lợi tức cũng thuộc tài sản bảo đảm tiền vay.


– Được cho thuê, cho mượn tài sản nếu có thỏa thuận với TCTD cho vay.


* Nghĩa vụ của khách hàng vay:


– Phải giao cho TCTD giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của khu đất mà tài sản là bất động sản sẽ được hình thành khi ký kết hợp đồng bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.


– Thông báo cho TCTD về quá trình hình thành và tình trạng tài sản bảo đảm, tạo điều kiện để TCTD kiểm tra tài sản bảo đảm tiền vay.


– Đối với tài sản bảo đảm tiền vay mà pháp luật quy định đăng ký quyền sở hữu thì trước khi đưa vào sử dụng phải đăng ký quyền sở hữu tài sản và giao cho TCTD giữ bản chính giấy chứng nhận sở hữu tài sản đó.


– Không được bán, chuyển nhượng, tặng, cho, góp vốn liên doanh hoặc dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác khi chưa trả hết nợ tổ chức tín dụng, trừ trường hợp được tổ chức tín dụng đồng ý cho bán để trả nợ cho chính khoản vay được bảo đảm.


* Quyền của tổ chức tín dụng:


– Yêu cầu khách hàng vay thông báo tiến độ hình thành tài sản bảo đảm và sự thay đổi của tài sản bảo đảm tiền vay.


– Tiến hành kiểm tra và yêu cầu khách hàng vay cung cấp các thông tin để kiểm tra, giám sát tài sản hình thành từ vốn vay.


– Thu hồi nợ vay trước hạn nếu phát hiện vốn vay không được sử dụng để hình thành tài sản như đã cam kết.


– Xử lý tài sản hình thành từ vốn vay để thu nợ khi khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ.


* Nghĩa vụ của TCTD:


– Thẩm định hoặc kiểm tra để đảm bảo khách hàng vay và tài sản hình thành từ vốn vay được dùng làm bảo đảm tiền vay đáp ứng các điều kiện quy định trên.


– Trả lại cho khách hàng vay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản (nếu có) sau khi khách hàng vay hoàn thành nghĩa vụ trả nợ


đ. Hình thức của bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay.


Theo điều 16 nghị định 178/1999/NĐ-CP hợp đồng cầm cố thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay phải được lập thành văn bản, có thể ghi vào hợp đồng tín dụng hoặc lập thành văn bản riêng do các bên thỏa thuận. Khi tài sản được hình thành đưa vào sử dụng, các bên phải lập phụ lục hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay, trong đó mô tả đặc điểm xác định giá trị tài sản đã được hình thành.


Nội dung của hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay tương tự như hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản vay vốn như đã được trình bày ở phần trên.

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.