Ads Top

Bản chất và nguồn gốc quyền lực của nhà nước Việt nam



Bản chất và nguồn gốc của quyền lực Nhà nước trong khoa học luật Hiến pháp cũng đồng thời là bản chất, nguồn gốc của Nhà nước. Đây là một vấn đề cơ bản nhất của Nhà nước cần phải được qui định trong Hiến pháp.


Kể từ khi có Nhà nước Việt Nam mới, từ cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam luôn luôn thể hiện bản chất giai cấp vì nhân dân lao động của mình. Bản chất của quyền lực Nhà nước của dân, do dân và vì dân, luôn được qui định thành văn trong các Hiến pháp. Bản chất này luôn được qui định trang trọng trong những điều đầu tiên của mỗi một bản hiến văn, và trở thành một trong những tiêu chí cơ bản để khẳng định chính thể cộng hòa của mình.


Khái niệm Nhà nước thuộc về nhân dân trong luật Hiến pháp còn được sử dụng đồng nghĩa với khái niệm quyền lực nhân dân, khái niệm này còn đồng nghĩa với khái niệm dân chủ. Trong các Nhà nước quân chủ chuyên chế không thể có khái niệm quyền lực nhân dân. Ở các Nhà nước đó quyền lực nằm trong tay Hoàng đế, người được coi là thay trời, thay chúa trị vì nhân dân. Quyền lực Nhà nước luôn luôn gắn liền với sự thần bí, với tôn giáo. Chủ quyền của quốc gia được coi như là một thứ tài sản được nhà Vua chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và được để lại cho con cháu nhà vua theo nguyên tắc kế thừa.


Khi cách mạng dân chủ tư sản ra đời, giai cấp tư sản đã thay thế chính thể quân chủ bằng chính thể cộng hòa; và để chống lại chế độ quân chủ chuyên chế, chế độ phong kiến cổ hủ bằng các Hiến pháp của mình, giai cấp tư sản đã ghi nhận quyền lực của nhân dân, chủ quyền của nhân dân. Việc quy định quyền lực nhân dân của Nhà nước đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của tư tưởng dân chủ của nhân loại.


Từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2/9/1945 cho đến ngày nay quyền lực thuộc về nhân dân bao giờ cũng là nguyên tắc quan trọng nhất trong việc xây dựng chế độ chính trị của Nhà nước ta. Quyền lực của nhân dân đó là bản chất của Nhà nước dân chủ nói chung và của Nhà nước ta nói riêng. Điều 6, Hiến pháp 1980; Điều 2 và Điều 6 trong Hiến pháp 1992 vẫn giữ nguyên nguyên tắc đó trong đạo luật cơ bản của Nhà nước. Như vậy chúng ta thấy rằng tuy về hình thức Nhà nước thay đổi về chính thể cộng hòa dân chủ nhân dân (Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959) sang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 1992 sửa đổi) nhưng bản chất quyền lực thuộc về nhân dân, nguyên tắc quyền lực nhân dân chỉ hòan thiện thêm chứ không thay đổi.


Nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân (Điều 2 Hiến pháp 1992 sửa đổi), có nghĩa là tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Việt Nam. Quyền lực Nhà nước không thể thuộc về một một đẳng cấp, một tổ chức xã hội hay một nhóm người nào. Quyền lực Nhà nước phải hoàn toàn  thuộc về nhân dân  lao động bao gồm giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và những người lao động khác mà nòng cốt là liên minh công nhân, nông dân, trí thức. Nhân dân có quyền tự do thể hiện ý chí của mình và thông qua các đại biểu của mình biến ý chí đó thành ý chí Nhà nước, thành quy phạm pháp luật buộc mọi thành viên trong xã hội phải thực hiện.


Hình thức chủ yếu thực hiện quyền lực nhân dân ở nước ta là hình thức dân chủ đại diện. Đây là hình thức nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua các cơ quan đại diện của mình , đó là Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra. Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất thay mặt cho nhân dân cả nước giải quyết những công việc quan trọng nhất của đất nước. Như vậy thông qua Quốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của mình, nhân dân thể hiện quyền  làm chủ đất nước.


Ngoài hình thức dân chủ đại diện nhân dân lao động còn thực hiện quyền lực của mình dưới hình thức dân chủ trực tiếp. Đó là việc nhân dân trực tiếp tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, tham gia thảo luận Hiến pháp và pháp luật, trực tiếp thể hiện ý chí của mình, khi có trưng cầu dân ý. Nhân dân trực tiếp bầu ra các đại biểu của mình vào các cơ quan quyền lực Nhà nước trung ương và địa phương và có quyền bãi miễn các đại biểu đó khi họ tỏ ra xứng đáng với danh hiệu đại biểu. Các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội động Nhân dân phải báo cáo công việc của mình trước cử tri.


Muốn bảo đảm nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân chúng ta phải coi trọng cả hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Hai hình thức này bổ sung cho nhau, xem nhẹ một hình thức nào cũng sẽ làm hạn chế quyền lực của nhân dân .

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.