Đánh giá ưu, nhược điểm của các quy định về chế tài trong hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng mua bán hàng hóa
a. Ưu điểm
Nhìn chung các quy định về các hình thức chế tài của 2 loại hợp đồng trên đã tạo được một môi trường pháp lý để đảm bảo quyền lợi cho bên bị vi phạm trong hợp đồng; góp phần nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của chủ thể tham gia hợp đồng. HĐMBHH theo Luật Thương Mại xét về bản chất là 1 dạng cụ thể của HĐMBTS trong Luật Dân sự[2]. Và với vai trò là Hợp đồng của 1 Luật “riêng” nó đã có thêm những hình thức chế tài khác cho phù hợp với bản chất pháp lý cũng là điều dễ hiểu. Đó là sự phát triển tiếp tục những quy định của dân luật truyền thống về HĐMBTS[3]. Những hình thức chế tài được quy định nói chung khá chặt chẽ (ví dụ như các trường hợp của chết tài bồi thường thiệt hại và hủy bỏ hợp đồng của HĐMBTS), khái quát được hệ thống các hình thức chế tài.
b. Nhược điểm
Các quy định của HĐMBTS dường như còn chưa đạt đến độ “sâu”, vẫn còn mang nặng tính “chung chung”. Thêm nữa, việc quy định mức phạt vi phạm còn không thống nhất ở các văn bản có liên quan (Điều 301 LTM quy định mức phạt tối đa 8% giá trị nghĩa vụ vi phạt, BLDS lại quy định mức phạt vi phạm tùy theo thỏa thuận, Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế lại quy định mức phạt vi phạm không quá 12% giá trị của nghĩa vụ bị vi phạm – phụ thuộc vào loại nghĩa vụ bị vi phạm). Tất nhiên khi áp dụng luật sẽ ưu tiên áp dụng Luật chuyên ngành nhưng như thế cũng tạo ra một môi trường pháp lý không hòa đồng. Vấn đề quy định mức phạt vi phạm hiện nay trong LTM cũng chưa hợp lý. Chế định phạt vi phạm này được sử dụng với 2 mục đích đồng thời: răn đe, ngăn chặn vi phạm hợp đồng (trong trường hợp có vi phạm thì bên vi phạm sẽ phải nộp “phạt” không phụ thuộc vào việc thực tế vi phạm đó có gây ra thiệt hại cho bên kia không); bồi thường thiệt hại theo mức định trước (tức là nếu có vi phạm gây thiệt hại thì bên bị thiệt hại không được quyền đòi bồi thường thiệt hại theo mức thiệt hại thực tế mà chỉ được đòi khoản tiền đã xác định trước mặc dù thực tế không có thiệt hại hoặc thiệt hại có thể là thấp hơn hoặc cao hơn mức tiền phạt này). Qui định về “giới hạn trên” của mức phạt (8%) là không hợp lý vì nếu một bên thấy mức thiệt hại mà họ phải chịu nếu thực hiện đúng hợp đồng còn cao hơn mức thiệt hại do nộp phạt thì họ sẽ “cố ý” vi phạm. Mục đích “răn đe” do đó sẽ không thực hiện được. Hơn nữa qui định này cũng can thiệp vào quyền tự do thoả thuận của các bên. Vì vậy, không nên qui định mức phạt tối đa. Việc qui định phạt vi phạm với mục đích răn đe (phạt) cũng có thể gây ra những nguy cơ nhất định trong việc áp dụng. Ví dụ theo thông luật (common law) áp dụng tại các nước Anh, Mỹ, Úc… các bên chỉ được thoả thuận về bồi thường theo mức định trước (liquidated damages), mọi thoả thuận về phạt vi phạm (penalty) đều vô hiệu[4]. Như vậy một bản án của toà án hay phán quyết trọng tài chấp nhận hiệu lực của điều khoản phạt vi phạm trong HĐTM có thể sẽ bị toà án tại các nước theo hệ thống thông luật từ chối công nhận và thi hành. Mục đích răn đe và bồi thường thiệt hại theo mức định trước đôi khi không thể thống nhất với nhau trong cùng một loại chế tài. Ví dụ nếu “răn đe” thì mọi vi phạm đều phải nộp phạt còn nếu là “bồi thường thiệt hại theo mức định trước” thì chí ít việc vi phạm phải gây ra thiệt hại (thì mới có chuyện “bồi thường thiệt hại”; “bồi thường thiệt hại theo mức định trước chỉ khác so bồi thường thiệt hại chung ở chỗ mức bồi thường đã được ấn định trước).
Luật hợp đồng của Pháp qui định nội dung này thành hai hình thức riêng biệt:
i. bồi thường thiệt hại theo mức định trước (với các điều kiện áp dụng cho bồi thường thiệt hại thông thường: tức là phải có hành vi vi phạm, có thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại); và
ii. phạt vi phạm (clause pénal) áp dụng bất kỳ khi nào có vi phạm mà không phụ thuộc vào việc có thiệt hại xảy ra hay không.
Bên bị vi phạm có thể cùng lúc đòi bồi thường thiệt hại thực tế và khoản tiền phạt vi phạm. Riêng đối với hình thức bồi thường thiệt hại theo mức định trước, nếu khoản tiền bồi thường theo mức định trước là quá vô lý so với thiệt hại thực tế (quá cao hoặc quá thấp) thì thẩm phán có thể can thiệp để điều chỉnh mức này cho hợp lý hơn. Như vậy là chế định phạt vi phạm là để răn đe còn bồi thường thiệt hại theo mức định trước là nhằm mục đích “bồi thường thiệt hại” theo đúng nghĩa của nó. Thiết nghĩ chúng ta không nên quy định giới hạn trên trong chế tài phạt vi phạm như Luật Thương Mại 2005 để khắc phục những bất cập và nâng cao quyền tư do thỏa thuận trong pháp luật về hợp đồng.
Qua những ưu nhược điểm đã phân tích ở trên cho thấy Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam còn phải hoàn thiện nhiều từ hình thức hợp đồng đến các hình thức chế tài. Nói chung, các chế tài chỉ là biện pháp cuối cùng mang tính “cưỡng chế” ý chí. Đặc biệt, chúng ta cũng nên quan tâm đến vấn đề giải thích luật và áp dụng luật. Bên cạnh đó cũng nên xem xét đến vấn đề áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử. Điều này sẽ giúp cho việc áp dụng các hình thức chế tài có sự đổi mới, có sự so sánh trong tương quan với các vụ án đã xử để có được bản án chính xác và công minh nhất. Việc sử dụng án lệ với một mức độ thích hợp là một yêu cầu được đặt ra trong bối cảnh của xu thế toàn cầu hóa về kinh tế, với sự mở rộng giao lưu văn hóa, pháp luật…nên ngày càng có sự gần nhau hơn trong quan niệm và sự vận dụng các loại nguồn của pháp luật[5].
[2] Xem ĐH Luật Hà Nội:Giáo trình Luật Thương Mại, tập 2, SĐD, trang 15.
[3] Xem ĐH Luật Hà Nội:Giáo trình Luật Thương Mại, tập 2. SĐD, trang 18.
[4] Nguyễn Thu Trang – VCCI : Góp ý Dự thảo Luật Thương Mại lần 8(Quy định về mức phạt vi phạm trong Dự thảo này vẫn giữ nguyên khi thông qua Luật Thương mại 2005 như hiện nay), http://vibonline.com.vn/vi-VN/Home/TopicDetail.aspx?TopicID=807
[5] TS.Đỗ Văn Đại: Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, NXB. Chính trị Quốc gia, 2008, tr. 5.
Không có nhận xét nào: